Đám cưới Việt Nam: truyền thống và hiện đại

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Đám cưới Việt Nam: truyền thống và hiện đại

Gửi bàigửi bởi hienluong » Thứ 6 29/05/09 21:51

A. Phần mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Từ xa xưa, người Việt Nam đã coi trọng đám cưới, đó là một trong những việc hệ trọng nhất của đời người. Đám cưới truyền thống Việt Nam có một nét đẹp riêng mà không nơi nào có được- một nét đẹp trong tâm thức và trong bản sắc văn hóa từ ngàn đời của cha ông.
Ngày nay, đám cưới của người Việt Nam vẫn rất quan trọng. Nhưng khi xã hội đang phát triển theo vòng xoay của thế giới, đám cưới ấy đã được hiện đại hóa, “phương Tây hóa”, đã mất đi một phần vẻ đẹp truyền thống vốn có của nó. Nhiều người Việt trẻ cho rằng đám cưới truyền thống là rườm rà, là lạc hậu. Nhưng họ đâu biết chính trong sự rườm rà và lạc hậu đó là cả một nét đẹp văn hóa mang đậm chất nhân văn của ông cha ta.
Chúng ta nghĩ gì khi một bạn học sinh đi thi IELTS, trong phần thi nói đã bắt trúng câu hỏi thuyết trình về đám cưới truyền thống của nước bạn. Thực ra, câu này có rất nhiều cái để nói, nhưng do không biết nhiều về đám cưới truyền thống nên bạn ấy chỉ biết nói là trong đám cưới, cô dâu, chú rể mặc áo dài, khăn đóng, đón khách và làm lễ…Cũng không thể trách bạn học sinh đó không biết, vì ngày nay đám cưới theo đúng phong tục đã dần mai một. Hình ảnh đó có lẽ chỉ còn sót lại ở một số làng quê Việt Nam.
Đi tìm hiểu đôi nét về đám cưới truyền thống Việt Nam trong tương quan so sánh với đám cưới hiện đại, tôi không dám định hướng cho các bạn trẻ phải quan tâm đến đám cưới truyền thống, đến bản sắc văn hóa của Việt Nam. Nhưng tôi hy vọng, nếu gặp trường hợp của bạn học sinh trên thì tôi và những ai quan tâm đến vấn đề này sẽ không rơi vào tình trạng như vậy.
Đó cũng là một sự thành công của đề tài và cũng là mục đích mà đề tài hướng đến.
2. Ý nghĩa của đề tài
3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
B. Phần nội dung
Chương I: Quan niệm hôn nhân
Chương II: Đám cưới truyền thống
1. Trang phục và biểu tượng của đám cưới
1.1. Trang phục
1.2. Biểu tượng
2. Các nghi thức của đám cưới truyền thống
2.1. Kén chọn
2.2. Mai mối
2.3. Lễ nộp cheo
2.4. Lễ dạm ngõ( xem mặt)
2.5. Lễ ăn hỏi
2.6. Gửi rể
2.7. Lễ cưới
2.8. Lễ lại mặt
Chương III: Đám cưới hiện đại
1. Trang phục
2. Các nghi thức của đám cưới hiện đại
2.1. Lễ dạm ngõ
2.2. Lễ ăn hỏi
2.3. Lễ trao giấy chứng nhận kết hôn
2.4. Lễ cưới
Mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại
Kết luận
RANDOM_AVATAR
hienluong
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 4 31/10/07 12:47
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Bài hoàn chỉnh: Đám cưới Việt Nam: truyền thống và hiện đại

Gửi bàigửi bởi hienluong » Thứ 3 02/06/09 20:03

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Người xưa có câu: “Đem thân xuống cõi phù sinh
Đố ai giữ được chữ trinh ở đời
Có Âm- Dương có vợ chồng
Dẫu rằng trời đất cũng vòng phu thê”
Con người lớn lên dù nam hay nữ đều có quan niệm người yêu trong lý tưởng, vì lẽ tự nhiên của tạo hóa đã sắp sẵn cho mỗi người, không chạy chốn được.
Mỗi người có một bổn phận và trách nhiệm riêng đối gia đình, dòng tộc và xã hội.
Trong hôn nhân, ai cũng mong mỏi tình yêu nồng thắm, cao cả, lòng trinh tịnh quí giá, nhận lấy phận sự gây dựng giống nòi, bảo tồn thuần phong mĩ tục, giữ gìn nề nếp cho xứng với nền văn hóa gốc có hệ thống vững vàng và bản sắc tốt đẹp.
Từ xa xưa, người Việt Nam đã coi trọng đám cưới, đó là một trong những việc hệ trọng nhất của đời người. Đám cưới truyền thống Việt Nam có một nét đẹp riêng mà không nơi nào có được- một nét đẹp trong tâm thức và trong bản sắc văn hóa từ ngàn đời của cha ông.
Ngày nay, đám cưới của người Việt Nam vẫn rất quan trọng. Nhưng khi xã hội đang phát triển theo vòng xoay của thế giới, đám cưới ấy đã được hiện đại hóa, “phương Tây hóa”, đã mất đi một phần vẻ đẹp truyền thống vốn có của nó. Nhiều người Việt trẻ cho rằng đám cưới truyền thống là rườm rà, là lạc hậu. Nhưng họ đâu biết chính trong sự rườm rà và lạc hậu đó là cả một nét đẹp văn hóa mang đậm chất nhân văn của ông cha ta.
Chúng ta nghĩ gì khi một bạn học sinh đi thi IELTS, trong phần thi nói đã bắt trúng câu hỏi thuyết trình về đám cưới truyền thống của nước bạn. Thực ra, câu này có rất nhiều cái để nói, nhưng do không biết nhiều về đám cưới truyền thống nên bạn ấy chỉ biết nói là trong đám cưới, cô dâu, chú rể mặc áo dài, khăn đóng, đón khách và làm lễ…Cũng không thể trách bạn học sinh đó không biết, vì ngày nay đám cưới theo đúng phong tục đã dần mai một. Hình ảnh đó có lẽ chỉ còn sót lại ở một số làng quê Việt Nam.
Đi tìm hiểu đôi nét về đám cưới truyền thống Việt Nam trong tương quan so sánh với đám cưới hiện đại, tôi không dám định hướng cho các bạn trẻ phải quan tâm đến đám cưới truyền thống, đến bản sắc văn hóa của Việt Nam. Nhưng tôi hy vọng, nếu gặp trường hợp của bạn học sinh trên thì tôi và những ai quan tâm đến vấn đề này sẽ không rơi vào tình trạng như vậy.
Đó cũng là một sự thành công của đề tài và cũng là mục đích mà đề tài hướng đến.
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu về phong tục và nghi lễ cưới hỏi của người Việt Nam.
-Phạm vi nhiên cứu: giới hạn trong hai mốc thời gian:
+ Truyền thống là khoảng thời gian trước khi giao lưu với phương Tây.
+ Hiện đại là trong quá trình giao lưu hội nhập kinh tế, có sự ảnh hưởng của phương Tây.
3. Ý nghĩa của đề tài
Giúp cho tác giả và những ai quan tâm đến đề tài có cái nhìn sâu sắc hơn, toàn vẹn hơn về đám cưới truyền thống, từ đó rút ra cái được và cái mất của đám cưới hiện đại so với truyền thống.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
-Phương pháp tổng hợp: Tập hợp các tài liệu và rút ra đặc điểm chung về nghi lễ cưới hỏi của người Việt Nam.
-Nguồn tư liệu:
+ Tài liệu, sách, báo trong thư viện trường.
+ Nguồn tư liệu trên Internet.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG MỘT: QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN
1.Quan niệm truyền thống
Hôn nhân( đám cưới) là từ mà nhân gian chỉ việc trai gái lấy nhau. Ngày xưa, theo sách vở gọi là giá thú( giá là lấy chồng, thú là lấy vợ).
Trong đời sống tinh thần người Việt thì cưới là một việc hệ trọng của cuộc đời con người. Dân gian có câu “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Trong ba việc ấy thật là khó thay”
Ngày xưa, con người cá nhân hòa trong cộng đồng làng xã đến mức tối đa, mọi nghĩa vụ và quyền lợi cá nhân đều liên quan đến cộng đồng và bị cộng đồng chi phối, kể cả quyền hạnh phúc lứa đôi. Vì vậy “hôn nhân không phải là việc riêng của hai người mà là việc hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái”.[Trần Ngọc Thêm 1999:143].( thể hiện tính cộng đồng của làng xã Việt Nam)
Hôn nhân của đôi trai gái còn là việc xác lập mối quan hệ giữa hai gia đình trước kia “không quen biết” nay trở thành thông gia. Vì vậy cần phải xem xét gia đình đó có môn đăng hộ đối với gia đình mình hay không.
Ngoài ra hôn nhân còn là “ công cụ” duy nhất và thiêng liêng để duy trì nòi giống.[TNT 1999:143]
2. Quan niệm hiện đại
Ngày nay đám cưới gọi là hôn lễ( lễ kết hôn)- buổi lễ tổ chức để làng xóm, họ hàng hai bên công nhận đôi trai gái chính thức thành vợ chồng.
Nếu đứng về phía pháp luật, chỉ cần đôi nam nữ có giấy đăng kí kết hôn là được pháp luật bảo vệ. Nhưng để xã hội và làng xóm thừa nhận, họ phải tổ chức một đám cưới và mời họ hàng, bạn bè thân thích tham dự.
Ngày nay, quan niệm về hôn nhân đã thoáng hơn, nam nữ được tự do tìm hiểu và yêu nhau. Họ được bình đẳng trước pháp luật, nhưng họ vẫn phải tổ chức đám cưới, được sự đồng ý của gia đình hai bên, và để giới thiệu với bạn bè và xã hội rằng đôi nam nữ chính thức thành vợ chồng và về sống dưới một mái nhà.
CHƯƠNG HAI: ĐÁM CƯỚI TRUYỀN THỐNG
1.Trang phục và biểu tượng của đám cưới.
1.1. Trang phục
Theo đám cưới cổ truyền, hai họ cô dâu và chú rể đều mặc áo dài và khăn đóng. Nhưng cô dâu và chú rể thường mặc áo dài, khăn đóng nổi bật để dễ phân biệt. thường thì cô dâu mặc màu đỏ, chú rể mặc màu xanh.
1.2 Biểu tượng của đám cưới truyền thống
Biểu tượng cho đám cưới ở Việt Nam là hình ảnh đôi chim nhạn, quả cau lá trầu, nhưng thường gặp nhất vẫn là hai chữ “song hỷ” được viết bằng màu đỏ.
Đôi chim nhạn: vì chim nhạn là loài chim rất chung tình, không sánh đôi hai lần. Tương truyền, loài chim nhạn rất thảo ăn, khi gặp mồi chúng kêu nhau ăn chung, lúc sinh trứng đến khi nở thường có một con trống và một con mái.[Nguyễn Văn Toàn 2007: 34]
Quả cau lá trầu: xuất phát từ sự tích trầu cau của người Việt Nam, thể hiện sự chung thủy của vợ chồng.
Hai chữ “song hỷ” xuất xứ từ Trung Quốc thể hiện hai niềm vui lớn: đại đăng khoa– thi đổ làm quan, và tiểu đăng khoa- cưới vợ. Ngày nay “song hỷ” là biểu thị của niềm vui chung giữa hai họ.
Xuất xứ của chữ “song hỷ” ở Trung Quốc: Vương An Thạch(1021-1086) là một nhà chính trị đời Tống. Năm 20 tuổi về kinh dự thi. Khi đi qua một thị trấn nhỏ, Vương nhìn thấy một câu đối treo dưới đèn lồng “tẩu mã đăng,đăng tẩu mã,đăng tức, mã đình bộ” (đèn kéo quân,quân kéo đèn,đèn tắt,quân ngừng bước) Vương hiểu chủ nhà tên là Mã, đang mời khách qua đường viết câu đói đối lại.
Trong kì thi Vương bắt được câu đối “ phi hổ kì, kì phi hổ, kì quyển, hổ tàng thân” ( cờ bay hổ, hổ bay cờ ,cờ cuộn ,hổ giấu mình).Vương bèn đọc lạ câu hỏi đã thấy ở nhà ông Mã. Trên đường về nhà Vương đi qua nhà ông Mã, ông Mã mời Vương đưa ra vế đối, Vương đọc lại câu đối trong kỳ thi.Ông Mã hài lòng và gả con gái cho. Trong ngày cưới Vương vui sướng vì biết mình đã đổ kỳ thi, được cả hai việc lớn ông đã viết hai chữ “song hỷ” lên một tờ giấy đỏ gián ở cổng và ngâm hai câu thơ:
Khéo đôi nên thành ra song hỷ
Hổ bay, ngựa kéo kết nhân duyên

2. Các nghi thức của đám cưới:
Tín ngưỡng và tập quán văn hóa Trung Hoa đã ảnh hưởng sâu sắc đến nghi lễ cưới xin của người Việt Nam trong suốt ngàn năm Bắc thuộc. Tuy nhiên người Việt Nam đã thay đổi và xắp xếp những nghi lễ đó cho phù hợp với phong tục của mình. Những nghi lễ truyền thống cũng có những đặc trưng riêng nhưng đều gắn liền với nghi thức tôn giáo và sắc thái linh thiêng liên quan đến tương lai của cặp vợ chồng. Tùy từng thời ,từng vùng, từng gia cảnh mà đám cưới được tổ chức khác nhau. Nhưng thông thường, một đám cưới truyền thống gồm các nghi lễ sau:
2.1. Kén chọn:
Tục xưa, việc dựng vợ gã chồng là việc của gia tộc, của cha mẹ.Nên con cái đến tuổi trưởng thành thì cha mẹ tiến hành kén rể,kén dâu.
Trước hết là tìm một gia đình thông gia môn dăng hộ đối.Tránh trường hợp “đũa mốc chọc mâm son” và “mèo mả gà đồng” không thể sánh với “giống công giống phượng”. Ca dao cổ có câu
“Mua thịt thì chọn miếng mông
Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi”
Với nền kinh tế nông nghiệp thủ công, cần người lao động nên những gia đình có con trai ,mặc dù còn nhỏ nhưng cha mẹ vẫn đi tìm vợ cho con, để mong có người làm việc nên có tục tảo hôn.
Vì con người là tài sản quý giá, nên trong hôn nhân chức năng duy trì nòi giống vô cùng quan trọng.Vì vậy chọn vợ là chọn về “năng lực sinh nở”[Nguyễn Đăng Duy 2004:236],phải là người phụ nữ lưng chữ cụ,vú chữ tâm.
“Đàn bà thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng ,vừa khéo nuôi con”
Năng lực sinh đẻ của người phụ nữ còn dựa vào người mẹ của người phụ nữ ấy. “Mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng”.
“Lấy vợ kén tông lấy chồng kén giống”.
Ngoài ra, khi kén con dâu, các cụ thường dựa vào tiêu chuẩn “tam tòng, tứ đức”.
Quan niệm chọn vợ ,chọn chồng là phải chọn những người có trách nhiệm làm lợi cho gia đình, con gái phải đảm đang tháo vát làm danh giá cho nhà chồng.
“Xấu thiếp hổ chàng”.
“Chồng sang vợ được đi giầy
Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy chông”
Ngoài ra còn phải kén người “tam hợp”, tránh “tứ xung” về tuổi. Nếu không sành về xem tuổi thì “gái hơn hai, trai hơn một” là được.Về ngoại hình người con gái có “mắt lá dăm,lông mày lá liễu” thì đáng trăm quan tiền.
2.2. Mai mối.
Nhà trai khi muốn tìm vợ cho con trai, thường nhờ ông mai hay bà mối sang nhà cô gái ngỏ ý thăm dò trước.
Ông mai bà mối phải là những người có tuổi, tính tình vui vẻ, hoạt bát, được láng giềng kính nể, còn song toàn cả vợ cả chồng, sinh con đẻ cái nhiều, có nếp có tẻ, trong nhà hòa thuận.
Nhà trai ghi họ tên và tuổi của con trai rồi nhờ bà mối sang trao cho nhà gái. Nếu nhà gái bằng lòng thì cũng cho biết tên tuổi, ngày sinh của con gái mình. Người mai mối là người có công rất lớn trong việc chắp mối lương duyên cho đôi trai gái. Nhiều đôi trai gái nên vợ nên chồng chỉ qua mai mối, mãi đến lễ vu qui họ mới biết mặt nhau.
Sau khi biết tuổi của đôi nam nữ, nếu họ hợp tuổi nhau thi hai gia đình quyết định tiến hành lễ cưới, nếu tuổi sung khắc thì thôi.
2.3.Lễ nộp cheo.
Đây là lễ bắt buộc phải có trong đám cưới.Trước khi trai gái muốn lấy nhau, nhà trai phải nộp một số lễ vật cho làng nhà gái gọi là nột cheo. Cheo là số tiền công ích nhỏ hoặc một số hiện vật như gạch lát, đóng cho làng để làm giếng, xây đường…Nếu không có cheo thì đám cưới sẽ không thành.
“Có cưới mà chẳng có cheo
Nhân duyên trắc trở như kèo không đinh”
Trai gái trong làng lấy nhau thì nộp cheo ít, trai ngoài làng lấy gái trong xã thì nộp cheo nhiều hơn.
Tục này bắt đầu từ tục “lan nhai” tức là giăng dây ở cổng làng hoặc ở dọc đường.[Nhất Thanh 2001: 383]
Sau khi nộp cheo cho làng cô dâu, các quan chức trong làng ghi vào sổ và cấp cho chú rể một “phái cheo”- tờ giấy biên nhận nộp cheo, công nhận cuộc hôn nhân hợp pháp. “Bao giờ tiền cưới trong tay
Tiền cheo làng lấy mới hay vợ chồng”
Sau Cách Mạng Tháng Tám, tục nộp cheo bị bãi bỏ.
2.4. Lễ dạm ngõ( xem mặt)
Đây là lễ cho người con trai và người con gái công khai gặp mặt và tìm hiểu nhau. Nhà trai mang một chùm cau và vài lạng chè đến nhà cô gái. Trong quá trình trò chuyện, nhà gái thường cho cô gái bưng cơi trầu, nước mời khách để tạo cơ hội cho chàng trai và cô gái gặp nhau nên lễ này còn gọi là lễ xem mặt.
Từ lễ dạm ngõ đến lễ ăn hỏi không có thời gian nhất định có thể 3-5 tháng hoặc 1 năm. Sau lễ dạm ngõ nhà trai phải thường xuyên đến thăm hỏi nhà gái tạo mối quan hệ thân thiết giữa hai bên.[Nhất Thanh 2001: 376]
Dạm ngõ chỉ là bước đầu của hôn nhân. Sau khi nhận lễ dạm ngõ, nếu có bất kì sự thay đổi nào thì việc hôn nhân cũng có thể thay đổi.
2.5 Lễ ăn hỏi
Là nghi lễ rất quan trọng. Nhà trai sắm sửa lễ vật gồm: cau tươi, bánh mứt, trầu, trà, thuốc đến nhà gái bàn chuyên cưới xin.
Lễ vật được bầy vào quả sơn son thếp vàng hoặc mâm đồng được đánh bóng. Khi nhà trai mang lễ vật đến nhà gái, gia trưởng nhà gái cho đặt lễ lên bàn thắp hương và cúng tổ tiên.
Nhà gái lưu lại một phần để nhà trai mang về gọi là “lại quả”.[Hà Hoài Dung 2005: 83]
Sau khi lễ gia tiên xong, nhà gái mang trầu cau bánh kẹo chia khắp họ hàng nội ngoại, làng xóm để thông báo việc gả chồng cho con.
Sau lễ ăn hỏi phải làm lễ sêu. Nhà trai mang đồ lễ đến nhà gái. Mùa nào thì sêu thức ấy, mùa vải thì sêu vải, mùa dưa thì sêu dưa.Đồ sêu thì nhà gái lấy một nửa còn một nửa trả lại nhà trai gọi là đồ “lại mặt”.[Viết Ái 2003: 54]
2.6 Gửi rể
Sau đám hỏi vài ngày, cô dâu phải qua nhà trai đáp lễ bằng cách mời trầu cau bánh kẹo cho bà con họ hàng để họ biết mình sắp về làm dâu nhà này. Chú rể phải thường xuyên thăm hỏi gia đình nhà gái, giúp công sức khi nhà có việc như nghĩa vụ của người con trong gia đình. Vào những ngày lễ tết hoặc nhà gái có việc hệ trọng thì chàng trai đều phải đến và mang theo lễ vật.
Đây là thời gian thử thách trước khi trở thành thành viên của gia đình. Bố vợ kén rể khỏe để giúp sức cho gia đình, cô gái theo dõi tính nết của chàng trai xem có đúng khuôn phép không. Nếu chàng trai có điều gì về cô gái thì lặng lẽ bỏ cuộc, nếu cô gái chê chàng trai thì nhờ bà mối có lời với nhà trai và xin “trả của”.[Hà Hoài Dung 2005: 85]
Tục gửi rể thường gây nhiều phiền hà trong các mối quan hệ xã hội. Vì thế người ta đã cải tiến, sau khi nhà gái nhận lễ thì hai gia đình chọn ngày cưới.
2.7 Lễ cưới
Đây là lễ quan trọng nhất, nó quyết định cuộc sống hạnh phúc của hai vợ chồng.
Khi đi đón dâu nhà trai chọn một đoàn gồm một người trung tuổi(40-50t) còn đủ vợ chồng, con cháu đông đúc, giỏi đối đáp làm trưởng đoàn, cùng 5-10 thanh niên trẻ, đẹp, chưa có vợ làm phù rể.
Khi đến nhà gái ,đoàn nhà trai được mời vào nhà ngồi chơi ăn trầu.Uống nước và ăn cơm chiều. Sau đó đại diện nhà trai có người xin dâu với họ nhà gái, nhà gái làm ra vẻ dùng dằng, lần khần và chỉ đồng ý cho đón dâu vào giờ cuối của buổi chiều.
Đoàn đưa dâu của nhà gái gồm những thiếu nữ trẻ và xinh gọi là phù dâu. Đứng đầu đoàn là một bà có tuổi còn song toàn( còn chồng) và “mắn con”
Khi về đến nhà trai,ở đầu cổng đã đốt pháo đón dâu.Đám trẻ nhỏ giăng dây tơ hồng trước đoàn rước dâu, bà mẹ chồng ném muối trắng ra ngõ để đón con dâu, với ý nghĩa “muối ba năm muối đang còn mặn”. Sau đó cô dâu chú rể vào làm lễ tổ tiên ,trên bàn thờ phải trang trí với đủ “hương đăng hoa quả” ,và làm lễ lên đèn. Lễ lên đèn là nghi lễ quan trọng và thiêng liêng nhất bắt buộc phải có.Hai ngọn nến to được đặt trên bàn thờ tổ tiên.Người trưởng tộc khui rượu trước bàn thờ, cô dâu và chú rể đứng hai bên.Hai ngọn đèn được đốt lên từ ngọn lửa của đèn dầu nhỏ trên bàn thờ( hiểu là lửa hương hỏa). Khi lửa cháy đều ngọn sẽ được cắm vào chân đèn.Ngọn đèn phải cháy thong dong, đều đặn, nếu bên thấp bên cao thì sẽ có dư luận chàng rể sợ vợ cô dâu lấn hiếp chồng.Đề phòng nến tắt nhiều người đóng cửa sổ và tắt quạt…
Tối đó là lễ tế Tơ hồng, là lễ mệnh tiếu( nghe lời cha mẹ dạy bảo).
Sau cùng là lễ Hợp cẩn. Cô dâu phải bước qua đống lửa để vào buồng mình. Trước cửa buồng có đặt một cái cối và một cái chày, khi cô dâu bước vào, bà mẹ chồng cầm chày giã vào cối ba cái ( thể hiện tín ngưỡng phồn thực)
Giường của đôi vợ chồng trẻ được một người đàn bà có tuổi trải chiếu cho, một chiếc xấp, một chiếc ngửa( một âm, một dương) úp vào nhau.
Trong lễ Hợp cẩn, cô dâu, chú rể uống chung một chén rượu nhỏ, ăn chung một đĩa cơm nếp, với ý nghĩa chúc cho hai vợ chồng luôn gắn bó với nhau: dính nhau như cơm nếp và say nhau như rượu nồng.[TNT 1999:146]
Tất cả những phong tục đó nhằm mong mỏi có một nàng dâu hiếu thảo, sớm có con, vợ chồng hòa thuận đến “ bách niên giai lão”.
2.8 Lễ lại mặt
Sau đêm tân hôn vợ chồng mới đưa nhau về nhà gái. Lễ lại mặt là để cô dâu tỏ chữ hiếu với cha mẹ. Lễ này nhà trai sửa soạn gồm xôi gà, rượu bánh, hoa quả, đặt lên bàn thờ tổ tiên và làm lễ.
Ngoài ra trong ngày lại mặt này, bố mẹ cô dâu sẽ biết hai vợ chồng có gặp trục trặc gì trong đêm tân hôn không.Xưa kia, khi chú rể đem theo một lễ có thủ lợn bị cắt mất tai thì sẽ mất vui( là dấu hiệu của cô dâu đã không còn trinh trắng). Khi đó nhà gái phải trả lại nhà trai một số lễ vật đáng kể thì mọi chuyện mới yên ổn.

CHƯƠNG BA: ĐÁM CƯỚI HIỆN ĐẠI
Bây giờ rất khó tìm thấy một đám cưới theo đúng truyền thống thuần phong mĩ tục của người Việt Nam. Nhiều thủ tục trong đám cưới cổ truyền đã đươc giảm lược như kén chọn, mai mối, nộp cheo và gửi rể. Nhiều hủ tục đã bỏ như tảo hôn, đa thê, thách cưới…Nhường chỗ cho cách thức tổ chức mời vừa mang tính dân tộc nhưng vẫn văn minh.
Ngày nay với thời mở cửa, chúng ta hội nhập với thế giới về kinh tế, đồng thời cũng giao lưu về văn hóa. Vì vậy đám cưới hiện đại của chúng ta cũng có nhiều nét thay đổi rõ rệt.
1. Trang phục
Với sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa phương Tây, trang phục trong đám cưới của ta đã thay đổi theo kiểu phương Tây. Cô dâu mặc sorie, chú rể mặc veston.
2. Các nghi thức của đám cưới hiện đại.
Trong thời đại hiện nay, nam nữ có quyền tự do yêu nhau, tự do tìm hiểu nhau. Sau một thời gian yêu nhau, họ cảm thấy không thể sống thiếu nhau thì gia đình hai bên đứng ra tổ chức đám cưới. Đám cưới hiện đại ngày nay gồm các nghi lễ: lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ trao giấy chứng nhận kết hôn và lễ cưới.[Trương Thìn 2008: 66]
2.1 Lễ dạm ngõ
Lễ dạm ngõ nhằm chính thức hóa quan hệ hôn nhân của hai gia đình, thể hiện trách nhiệm của hai gia đình đối với hạnh phúc của con trẻ. Đây là buổi hai gia đình gặp gỡ nhau, nhà trai đặt vấn đề chính thức với nhà gái cho đôi nam nữ được tự do đi lại, tiếp tục tìm hiểu nhau trước khi đi đến hôn nhân.
Lễ này biểu hiện cách ứng xử văn hóa, qua đó hai gia đình biết về gia cảnh, gia phong của nhau mà ứng xử cho phù hợp.
Trong lễ này thành phần tham dự chủ yếu là thành viên của hai bên gia đình. Lễ vật trong lễ dạm ngõ ngày nay gồm trầu cau, chè, thuốc được sắp dặt một cách khéo léo trong một quả hộp nhỏ có phủ vải điều.
Trong lễ dạm ngõ, ngoài việc thăm hỏi nhau của hai gia đình, họ còn bàn đến tiếp theo của hôn nhân là lễ ăn hỏi.
2.2 Lễ ăn hỏi
Trong các nghi thức của hôn nhân thì lễ ăn hỏi là nghi lễ to và quan trọng nhất. Nếu tổ chức lễ này phù hợp với hoàn cảnh của hai gia đình, phù hợp với phong tục tập quán của dân tộc, sẽ làm phong phú đời sống văn hóa- tinh thần cho đôi nam nữ, cho hai gia đình và giữ được bản sắc truyền thống văn hóa Việt Nam.
Nhà trai mang lễ vật đến nhà gái thường có số lượng chẵn( khác với thờ cúng vẫn dùng số lẻ). Ngày nay lễ vật thường gồm: chè mạn, rượu chai, bánh xu-xê( bánh phu thê), bánh cốm, trầu cau, thuốc lá. Những lễ vật này nhà trai thường dùng những tráp quả có sơn màu đỏ để đựng khi đưa sang nhà gái. Một số lễ vật được đặt trên mâm đồng có phủ vải đỏ.
Các tráp và các mâm lễ vật được các chàng thanh niên( chưa vợ) bê hoặc đội trong trang phục comple, caravat theo đội hình đẹp mắt.
Nhà gái cũng chuẩn bị 5-7 cô thiếu nữ( chưa chồng) trong trang phục áo dài dân tộc màu đỏ đứng sẵn để đón các tráp lễ vật từ các chàng trai. Sau khi nhận lễ, các thiếu nữ trao cho mỗi chàng thanh niên một phong bao tiền, vừa để cảm ơn sự tận tình của họ nhà trai, vừa biểu hiện tình cảm tốt đẹp của thiếu nữ bên nhà gái trong buổi đầu gặp mặt đầy ý nghĩa này.
Sau đó đại diện nhà trai xin phép nhà gái được thực hiện nghi lễ ăn hỏi. Khi được nhà gái chấp nhận thì chú rể vào phòng đón cô dâu ra chào hai họ.
Các lễ vật được lấy ra mỗi thứ một ít đặt lên ban thờ để cô dâu, chú rể thắp hương gia tiên.
Trước khi họ nhà trai về, nhà gái có một phần nhỏ biếu lại gọi là “lại quả”.
2.3 Lễ trao giấy chứng nhận kết hôn
Trước khi tổ chức lễ cưới phải làm thủ tục đăng kí kết hôn tại UBND xã, phường, thị trấn. Đây là thủ tục bắt buộc có tính pháp lý biểu hiện một xã hội phát triển văn minh.
Khi nhận được thủ tục xin đăng kí kết hôn của đôi nam nữ, chính quyền xem xét cho phép đăng kí kết hôn và tổ chức lễ trao giấy chứng nhận kết hôn cho đôi nam nữ.
2.4 Lễ cưới
Lễ cưới là đỉnh điểm của cả qui trình tiến tới hôn nhân, là chính thức đón cô dâu về nhà chồng. Đây cũng chính là nghi lễ được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm. Ý nghĩa của lễ này là công bố sự thành hôn của đôi trai gái, vì thế còn gọi là lễ thành hôn. Lễ thành hôn chỉ được tổ chức sau khi đã có giấy chứng nhận kết hôn.
Sau khi đoàn đón dâu của nhà trai đến nhà gái, người đại diện họ nhà trai có lời trước hai họ và xin nhà gái cho phép đón dâu. Khi nhà gái chấp nhận thì chú rể vào phòng đón cô dâu ra chào hai họ và làm lễ gia tiên .
Kể từ lúc này, cô dâu chú rể là con cháu của hai gia đình, hai họ. Người đại diện nhà gái cũng dặn dò cô dâu khi về nhà chồng những điều cần thiết của người dâu thảo.
Vào thời điểm này, mẹ cô dâu thường trao cho con mình những đồ trang sức cần thiết trước khi về nhà chồng.
Phương tiện đón dâu thường có xe hoa được trang trí bằng các loại hoa xung quanh xe. Các xe này đều có dán chữ song hỷ bằng giấy màu đỏ lên đầu xe.
Trước khi kết thúc buổi lễ thành hôn, người thay mặt nhà trai phát biểu lời cảm ơn tới hai họ, bà con, bạn bè có mặt trong buổi lễ. Trước khi ra về, các thành viên họ nhà gái thường vào thăm phòng hạnh phúc của đôi tân hôn và chúc mừng họ.
Ở thành thị, thường tổ chức lễ thành hôn ở nhà hàng. Cô dâu chú rể mở rượu sâm banh mời hai bên bố mẹ- những người đã sinh thành và nuôi dưỡng mình. Sau đó họ trao nhẫn cưới cho nhau.
Họ nâng cốc đi các bàn giới thiệu để cô dâu chú rể và hai bên thông gia biết được họ hàng, anh em, bạn bè…
Sau ngày cưới, đôi tân hôn thường đem theo lễ vật về nhà gái làm lễ gia tiên và thăm lại bố mẹ, anh, chị, em cô dâu. Nhân dịp này nhà gái thường làm cơm để dâu, rể cùng ăn với gia đình.
Duy trì tục lệ này với ý nghĩa nhắc nhở con cái về đạo hiếu, biết ơn sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ, thắt chặt thêm mối quan hệ thông gia, ruột thịt từ ngày đầu của đôi vợ chồng, với sự nhân đôi tình cảm… là điều nên làm, nên giữ- Đó cũng là nét đẹp, là bản sắc văn hóa- tinh thần của Việt Nam.
MỐI QUAN HỆ GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI
Đám cưới hiện đại của người Việt Nam đã có nhiều cách tân song vẫn giữ được nét truyền thống. Trong đám cưới ngày nay, mặc dù cô dâu chú rể mặc trang phục theo kiểu phương Tây, nhưng trong lễ ăn hỏi, hình ảnh thường thấy vẫn là áo dài truyền thống. Những nghi lễ gia tiên vẫn được lưu giữ, trầu cau, bánh phu thê, mâm ngũ quả, lễ lên đèn…vẫn là những vật phẩm, nghi thức chính của văn hóa truyền thống.
Biểu trưng trong đám cưới hiện đại vẫn là lá trầu quả cau, và màu đỏ vẫn là màu chủ đạo trong đám cưới hiện đại.
Tuy nhiên, tại lễ cưới, nhiều vấn đề xã hội diễn ra, mọi khen chê của dư luận đều tập trung vào.
Tổ chức một đám cưới theo nghi thưc cổ truyền, người khen thì cho rằng thế mới là đám cưới Việt Nam, mới không du nhập từ bên ngoài.
Nhưng người chê thì lại nói rườm rà, lãng phí, lạc hậu. Tất cả chỉ để khẳng định đúc kết của ông bà ta “ma chê cưới trách”, đó là điều không thể tránh khỏi. [Báo tuổi trẻ].
KẾT LUẬN
Có nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng: “Truyền thống là đáng quí, nhưng xã hội cần phải tiến lên”. Trong thời đại hội nhập kinh tế thế giới, nền văn hóa của chúng ta hòa nhập mà không hòa tan. Chúng ta tiếp thu những cái mới, cái hiện đại từ bên ngoài, nhưng chúng ta không làm mất đi cái gốc, cái bản sắc của dân tộc, cụ thể là những nghi thức đám cưới truyền thống của người Việt. Qua bao lớp bụi của thời gian và lịch sử, những nghi lễ ấy vẫn còn trong tâm linh người Việt. chính những đặc tính này đã làm cho văn hóa đám cưới của người Việt Nam giữ được nét đặc biệt, mà không quốc gia nào có được. Nhiều người nước ngoài lấy vợ( chồng) Việt Nam ( trừ những trường hợp theo trào lưu lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan) thì đều tỏ ra thích thú khi được tổ chức một nghi thức cưới truyền thống của người Việt. Điều này thể hiện giá trị tinh thần của đám cưới truyền thống Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Hà Hoài Dung 2005: Tìm hiểu nghi lễ cưới hỏi, thờ cúng trong dân gian. – NXB Từ điển Bách khoa.
2.Nguyễn Đăng Duy 2004: Văn hóa Việt Nam đỉnh cao Đại Việt.- NXB Hà Nội, 417tr.
3.Nguyễn Văn Toàn 2007: Tục lệ cưới hỏi và ma chay của người Việt Nam.- NXB Lao Động, 207tr.
4.Nhất Thanh 2001: Đất lề quê thói.- NXB VHTT, 574tr.
5.Trần Ngọc Thêm 1999: Cơ sở văn hóa Việt Nam.- NXB Giáo Dục, 334tr.
6.Trương Thìn 2008: Những điều cần biết về hôn lễ truyền thống.- NXB Hà Nội.
7.Viết Ái 2003: Phong tục cổ truyền Việt Nam và các nước.- NXB Văn hóa dân tộc.
8. Báo Tuổi Trẻ 29/12/2008.
RANDOM_AVATAR
hienluong
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 4 31/10/07 12:47
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến6 khách

cron