Bài tập 4: Chọn 1 khái niệm cơ bản trong đề tài của mình và phân tích nóKhái niệm "Văn minh khai hóa"Văn minh khai hóa (Bunmei kaika 文明開化) là thuật ngữ rất hay được sử dụng trong giai đoạn lịch cận đại ở các nước Đông Á và đặc biệt là trong thời kì Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản, đó là tổng hợp các cải cách về văn hóa xã hội nhằm văn minh hóa, hiện đại hóa Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
Từ văn minh trong tiếng Pháp là
civilisation và trong tiếng Anh là
civilization, còn có nghĩa là hoạt động khai hóa làm thoát khỏi trạng thái nguyên thủy.
Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hóa. Trái với văn minh là dã man [1].
Ở phương Tây, thuật ngữ
Khai hóa cũng có nghĩa giống với thuật ngữ
Khai sáng. Theo định nghĩa của Kant [2], Khai sáng “là sự thoát ra của con người khỏi tình trạng chưa trưởng thành (nonage) do chính con người tự gây nên. Chưa trưởng thành vì không có khả năng sử dụng lý trí của mình mà không cần đến sự dẫn dắt của kẻ khác. Sự chưa trưởng thành này, nếu chính nguyên nhân không nằm ở sự thiếu lý trí mà ở sự thiếu quyết định và thiếu can đảm trong việc tự sử dụng lý tính của chính mình mà không cần sự dẫn dắt của kẻ khác, thì chính là lỗi do chính mình gây nên. Bởi vậy,
hãy dám biết và hãy can đảm sử dụng lý trí của chính mình là phương châm của khai sáng”.
Nói cách khác,
khai sáng là sự thức tỉnh của lý tính, từ đó con người có thể sử dụng lý tính của mình để vượt ra khỏi những thiên kiến và mê muội. Sự dẫn dắt (tutelage) của kẻ khác mà Kant nói đến trong định nghĩa trên là do ảnh hưởng quyền uy của tôn giáo trong bối cảnh lịch sử của các nước châu Âu vào thế kỷ XVII và XVIII. Tuy nhiên có một chút khác biệt ở đây là vì điều kiện lịch sử và văn hóa ở Nhật Bản lúc này khác với các nước châu Âu vào thế kỷ XVII và XVIII nên đối tượng khắc phục của tư tưởng khai sáng ở Nhật vào đầu thời Minh Trị do đó cũng khác với các nước châu Âu.
Đồng nghĩa với
khai sáng và
khai hóa là
“khai thành” (開成 - kaisei). Đây là một danh từ thông dụng vào cuối thời Tokugawa và đầu thời Minh Trị, tương ứng với hai thập niên 1860 và 1870. “Khai thành” (còn gọi là “khai vật” hay “khai vụ”) đi từ tứ tự thành ngữ “khai vật thành vụ” trong Kinh Dịch có nghĩa là “mở mang tri thức của con người nhằm hoàn thành nhiệm vụ xã hội”. Những danh từ “khai hoang”, “khai sơn” (xẻ núi, từ thời cận đại có thêm nghĩa mới là khai mỏ), “khai thác”, “khai cảng” (xây dựng bến cảng) được sử dụng phổ biến ở Nhật Bản vào đầu thời Minh Trị đều dựa trên khái niệm “khai vật”.
Mặc dù đã có các từ “khai minh”, “khai hóa” và “khai thành”, nhưng khi nói về phong trào khai hóa ở Nhật Bản đầu thời Minh Trị, người Nhật cũng hay dùng từ
“khải mông” (啓蒙 - keimoo). “Khải” có nghĩa là thức tỉnh, mở mang; “mông” là tối tăm, mê muội; “khải mông” theo định nghĩa, là “thức tỉnh, mở mang những người ngu muội hay có kiến thức thức nông cạn”. Trong tiếng Nhật, khi nói về
tư tưởng khai sáng, người ta ít khi nói là
tư tưởng khai minh – tức tư tưởng khai sáng (解明思想 - kaimei shisoo) mà thường nói là
tư tưởng khải mông (啓蒙思想 - keimoo shisoo) [3].
Khi tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử Nhật Bản giai đoạn này chúng ta thường thấy các thuật ngữ Văn minh khai hóa và Minh Trị Duy Tân đi kèm với nhau. Bởi lẽ giai đoạn này các quốc gia Đông Á nói chung và Nhật Bản nói riêng đang tiếp nhận ảnh hưởng lan rộng của văn minh phương Tây. Hơn nữa chính phủ Minh Trị với chủ trương tiếp thu văn minh phương Tây để “cận đại hóa” nên sự ảnh hưởng của văn minh khai hóa được biểu hiện hết sức minh bạch, cụ thể qua các chính sách cải cách.
Vì lí do trên, để có “sợi dây” liên kết nội dung các chương với nhau và giữa các chương với tổng thể đề tài, các khái niệm liên quan đi chung với thuật ngữ văn minh khai hóa ở Nhật Bản sẽ được giới thiệu sau đây.
Từ điển Wikipedia định nghĩa Minh Trị Duy Tân như sau: Minh Trị Duy Tân hay cách mạng Minh Trị, cải cách Minh Trị là một chuỗi các sự kiện các cải cách và cách mạng dẫn đến những thay đổi to lớn trong cấu trúc xã hội và chính trị của Nhật Bản. Đó là sự chuyển biến trên phạm vi rộng lớn từ chế độ hành chính, pháp luật, triều đình, chế độ đẳng cấp, hành chính địa phương, tiền tệ, lưu thông, sản nghiệp, kinh tế, giáo dục, ngoại giao, chính sách tôn giáo… cũng như việc biến đổi sang quốc gia cận đại có thể chế quốc gia theo kiểu phương Tây đầu tiên ở châu Á [4].
Minh Trị Duy Tân là thuật ngữ dịch từ cụm từ Meiji Ishin (明治維新) trong tiếng Nhật. Minh Trị là niên hiệu của Thiên Hoàng Mutsuhito, vị Thiên Hoàng thứ 122 của Nhật, trị vì từ năm 1867 đến năm 1912. “Duy” (維) trong chữ Hán có nghĩa là ràng buộc, duy trì, và còn có nghĩa là bảo vệ, là ủng hộ. “Tân” (新) có nghĩa là mới. Duy tân có nghĩa là ủng hộ cái mới, thực thi cái mới, bảo vệ cái mới [5].
Đối với Minh Trị Duy Tân, đề tài này dựa theo quan điểm nghiên cứu đó
“vừa là cách mạng vừa là cải cách” [6] nên trong nội dung đề tài để câu văn linh động nhằm đạt được nhiều mục đích, chúng tôi sử dụng đan xen các thuật ngữ
“Minh Trị Duy Tân”,
“Cải cách Minh Trị” hay
“Cách mạng Minh Trị” hoặc có thể giữ nguyên cách đọc
“Meiji Ishin” phiên âm từ tiếng Nhật. Nói cách khác, các thuật ngữ này hoàn toàn giống nhau về nội hàm ý nghĩa.
Ở Việt Nam, về bản chất, phong trào học tập những thành tựu của văn minh phương Tây cũng được các nhà yêu nước tiến bộ vận động trong công cuộc Duy tân đầu thế kỉ XX nhằm mở mang dân trí, xóa bỏ ách thống trị của phong kiến và chủ nghĩa đế quốc thực dân nhưng thuật ngữ
văn minh khai hóa ít được sử dụng. Bởi vì ở Việt Nam khái niệm văn minh khai hóa khiến chúng ta liên tưởng đến sự du nhập của văn hóa phương Tây đi kèm với chính sách xâm lược và cai trị thuộc địa của đế quốc thực dân. Thay cho thuật ngữ văn minh khai hóa bị tránh sử dụng là các thuật ngữ
“Duy tân”, “Cải cách”, “Canh tân”… và về cơ bản các thuật ngữ này giống nhau về ý nghĩa.
[1] Vũ Dương Ninh (Chủ biên) (2008), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
[2] Nhà tư tưởng người Đức – một triết gia lớn của thời Cận đại với trường phái Khai sáng.
[3] Tham khảo thêm Vĩnh Sính (2005), “Hội trí thức Meirokusha và tư tưởng khai sáng ở Nhật Bản”, Tạp chí Thời đại mới, số 4.
[4]
http://wikipedia.org-Minh Trị Duy Tân.
[5] Nguyễn Tiến Lực (2010), Minh Trị Duy tân và Việt Nam (明治維新とベトナム), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
[6] Tham khảo thêm Nguyễn Tiến Lực (2010), Minh Trị Duy tân và Việt Nam (明治維新とベトナム), Nxb. Giáo dục, Hà Nội.