“Các nhà nho yêu nước Việt Nam thường nhận thức được rõ “Thổ hữu chủ” (Lê Văn Thịnh), “Địa phận Nam Bắc” (Phạm Sư Mạnh), “Giang sơn hữu hạn phân Nam Bắc” (Nguyễn Trung Ngạn) “Sóc Nam giới hạn tự an bài” (Ngô Thì Nhậm)…Nghĩa là có ý thức rõ về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ, nhưng lại khá mơ hồ trong ý thức độc lập về văn hóa. Mà văn hóa tức là lối sống, là tâm hồn dân tộc. Độc lập văn hóa mới độc lập sâu sắc, vững chắc…”
GS. Trần Quốc Vượng là một học giả lớn của Việt Nam, kiến thức uyên bác của Ông bao quát trên nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, triết học và văn hóa. Trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu, tác giả đã đóng góp nhiều công trình rất giá trị, nhiều nhận định đưa ra được đánh giá là khá sâu sắc và nhận định được nêu trong tác phẩm Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (đã trích dẫn ở trên) như một ví dụ.
Nhận định của tác giả tập trung hai vấn đề trong tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc: ý thức về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ, ý thức độc lập về văn hóa trong sự phản ánh của các nhà nho yêu nước Việt Nam. Quan điểm của chúng tôi là chia sẻ với GS. Trần Quốc Vượng về nhận định trên bên cạnh những quan điểm chưa thật sự thống nhất với tác giả. Sự chưa thống nhất này không mâu thuẩn với nhận định đã nêu mà mang một ý nghĩa nhằm hiểu rõ hơn tinh thần của nhận định của tác giả.
* Về ý thức về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ của các nho sĩ yêu nước Việt Nam
Trước hết, xem xét về Nho giáo: GS.TSKH Trần Ngọc Thêm trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam khẳng định: Nho giáo là sản phẩm của Văn hóa Trung Hoa, là “đứa con tinh thần được ra đời và nuôi dưỡng bởi hai dòng sữa: truyền thống văn hóa du mục phương Bắc và truyền thống văn hóa nông nghiệp phương Nam” [TNT, tr.482]. Chính chất du mục phương Bắc đã quy định những đặc điểm rất quan trọng của Nho giáo:
Thứ nhất là tham vọng “Bình thiên hạ” dẫn đến tư tưởng bá quyền, coi khinh những dân tộc miền biên viễn. Không tử nói: “các nước di địch dù có vua nhưng cũng không bằng Hoa Hạ không vua”.
Thứ hai, Một trong ba đức mà người quân tử bắt buộc phải có là Dũng bên cạnh Nhân và Trí. Cái chất Dũng ấy không có gì ngoài truyền thống Trọng sức mạnh vốn là của văn hóa gốc du mục.
Thứ ba, sự tham vọng “bình thiên hạ”, tư tưởng bá quyền coi mình là trung tâm dẫn đến tâm lý đặt nặng tính tôn ti thể hiện qua thuyết “Chính danh”. Không thừa nhận sự đấu tranh chống lại chính quốc. Khổng tử nói: “nơi biên viễn không được mưu việc Hoa Hạ, Di địch không được làm loạn Trung Hoa”.
Những đặc điểm này, thấm sâu vào đường lối cai trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa và rất rõ ở quan điểm đối ngoại. Các nhà nho yêu nước Việt Nam cũng chính vì thế mà thể hiện rất rõ ý thức về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.
Tiếp theo, quan sát tiến trình lịch sử - văn hóa Việt Nam trong quan hệ với Hoa tộc
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở “ngã tư đường” của sự giao lưu giữa các nền văn hóa: Ấn Độ, Trung Hoa, Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo. Tuy nhiên, trong tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì sự tác động của Trung Hoa là thường xuyên và liên tục. Chúng ta nằm ở phía Nam của Trung Hoa, một quốc gia khổng lồ, đất rộng, dân đông hơn gấp 10, 15, 20 lần, mạnh hơn về mặt quân sự, có bề dày văn hóa lại liên tục thực hiện chính sách thôn tính, đồng hóa các dân tộc xung quanh…Chính sách đó cơ bản thành công đối với hầu hết các dân tộc Bách Việt.
Trong một bối cảnh như vậy, tâm thức chung của cả dân tộc (trong đó có các nho sĩ yêu nước) là tự vệ, đề kháng văn hóa (mặc dù có những thời kỳ chúng ta chủ động tiếp nhận văn hóa Trung Hoa) và khẳng định độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ. Dân tộc Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, trong các kỳ tích của dân tộc nổi bậc nhất vẫn là sự đấu tranh liên tục chống lại chính sách, hành động xâm lược của phong kiến phương Bắc. Sau mỗi lần như vậy ý thức về độc lập, chủ quyền của dân tộc được tiếp tục củng cố và nâng lên. Những nhà nho yêu nước là lực lượng tri thức tiên phong đương thời phản ánh tâm lý thường trực của dân tộc về ý thức một dân tộc “sánh ngang triều Bắc”, “vô tốn Hoa Hạ”.
Sau cùng, quan tâm đến quan niệm “quốc gia” ở Việt Nam và tâm thức của dân tộc về chủ quyền lãnh thổ đất nước
Quan niệm “quốc gia” ở Việt Nam: Đặc trưng quan trọng số một về văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng (đời sống tập thể) là tính cộng đồng. Nó xuất phát từ cuộc sống nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, người nông nghiệp phải dựa vào nhau mà sống, mà lao động sản xuất…Các cấp độ tổ chức đời sống cộng đồng theo sự tăng dần từ gia tộc (quan hệ huyết thống) đến làng xã (quan hệ cư trú – thân tộc) đến quốc gia (quan hệ lãnh thổ, lịch sử - văn hóa) đều là sự phản ánh nhu cầu liên kết mọi người nhằm giải quyết những vấn đề chung của cho cả cộng đồng: làm đổi công, chống trộm cướp, chống lụt, chống giặt ngoại xâm…Quốc gia chính là sự mở rộng của làng, từ làng ra đến nước, là cái “nhà to” theo cách nói của Phan Bội Châu: “Nhà là cái nước nhỏ, nước tức là cái nhà to”. Như vậy, quan niệm “quốc gia” Việt Nam có thể nhận định trong sự so sánh với Trung Hoa: ““nhà nước” của Trung Hoa xuất phát từ một nền văn hóa coi trọng gia đình hơn gia tộc, còn khái niệm “làng nước” của chúng ta xuất phát từ một nền văn hóa coi trọng gia tộc hơn gia đình” [TNT, tr. 200]; “Làng xã Việt Nam cố kết chặt chẽ và toàn diện hơn làng xã Trung Quốc, quốc gia ở Việt Nam là một cộng đồng cao nhất của toàn dân tộc, không tương đương với khái niệm “quốc” thời cổ đại” [NTH, tr.45]. Ngay cả Tôn Trung Sơn trong “Tam dân chủ nghĩa” cũng đã khẳng định: “cái mà người Trung Quốc sùng bái nhất là chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc…Còn đối với quốc gia, trước nay người ta chưa hề có một lần hy sinh cực lớn, do đó sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng đến quốc gia” [PN, tr 37].
Tâm thức của dân tộc về chủ quyền, lãnh thổ đất nước - biểu hiện ở lòng yêu nước. Chính kinh tế nông nghiệp, tính cộng đồng trong tổ chức đời sống và đặc điểm lịch sử - văn hóa đã tạo nên tâm thức của dân tộc về chủ quyền, lãnh thổ đất nước mà biểu hiện bên ngoài chính là lòng yêu nước. Cũng chính tinh thần yêu nước xuất phát từ tâm thức của dân tộc thể hiện bằng những hành động cụ thể, thường trực: bám trụ quê cha đất tổ, quyết tâm bảo vệ nòi giống Lạc Hồng, bảo vệ văn hóa dân tộc, hâm nóng mãi tinh thần yêu nước…là “chất đề kháng”, vũ khí lợi hại để ứng phó với một Trung Hoa rộng lớn, hùng mạnh về quân sự, rực rỡ về văn hóa bảo vệ thành công chủ quyền, độc lập dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc.
Trên đây là các nhân tố có thể coi là “cái gốc” trong việc hình thành ý thức của các nho sĩ yêu nước Việt Nam: ý thức rõ về độc lập chính trị và chủ quyền lãnh thổ.
* Về nhận định: các nho sĩ yêu nước Việt Nam khá mơ hồ trong ý thức độc lập về văn hóa
Thứ nhất, Cách nói của GS. Trần Quốc Vượng: “các nhà nho yêu nước Việt Nam THƯỜNG nhận thức…” nghĩa là không phải tất cả các nhà nho yêu nước ở Việt Nam đều khá mơ hồ trong ý thức độc lập về văn hóa. Chúng ta thấy nổi bật lên tư tưởng của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo:
[center]“Như nước Đại Việt ta
Thật là một nước văn hiến!
Cõi bờ sông núi đã riêng.
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Trải Triệu Đinh Lý Trần đời đời dựng nước.
Cùng Hán Đường Tống Nguyên làm đế một phương,
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt bao giờ cũng có”[/center]
Và còn nhiều nho sĩ yêu nước nữa có ý thức cả độc lập lãnh thổ, chủ quyền và độc lập về văn hóa.
Thứ hai, nếu so sánh về không gian, vị trí của một nền văn hóa với lãnh thổ của một quốc gia thì rõ ràng không gian văn hóa là khó xác định hơn. Thông thường, không gian văn hóa của một dân tộc rộng hơn không gian lãnh thổ của dân tộc đó. Mặt khác trên thực tế, không thể có một nền văn hóa nào tồn tài độc lập mà không có quan hệ với các nền văn hóa xung quanh và khu vực. Như vậy về không gian văn hóa và quan hệ giữa nền văn hóa dân tộc với các nền văn hóa khác là những khái niệm mờ, khó xác định. Thế cho nên, nhiều nhà nho yêu nước khá mơ hồ hoặc không đặt nặng vấn đề về ý thức độc lập văn hóa là điều cũng dễ hiểu.
Thứ ba, Trong một nền văn hóa thì văn hóa dân gian (văn hóa trong nhân dân) là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”. Nghĩa là, văn hóa dân gian là khởi nguồn, sản sinh và nuôi dưỡng các hình thức văn hóa khác của dân tộc, trong đó bao gồm cả văn hóa chuyên nghiệp, bác học, văn hóa cung đình…Văn hóa dân gian là văn hóa của quần chúng lao động - chủ thể sáng tạo, vì thế mà nó mang tính cộng đồng rất cao, có khả năng đề kháng, chủ động tiếp nhận hoặc là bản địa hóa các yếu tố văn hóa ngoại lại. Như thế, các nhà nho yêu nước dù có ý thức về độc lập văn hóa hay không thì điều đó cũng không thể kết luận rằng dân tộc Việt Nam không có ý thức về độc lập văn hóa trước Trung Hoa. Hầu hết các giá trị văn hóa, cái lõi, cái bản sắc của nền văn hóa Việt Nam là nằm trong nhân dân, được nhân dân lưu giữ, bảo vệ và phát triển. Sự vận động, biến đổi của văn hóa Việt Nam hoàn toàn không đồng nhất với sự thay đổi vai trò thống trị của các triều đại hay các thể chế chính trị trong từng giai kỳ cụ thể. Rõ ràng, nếu nhân dân ta không có ý thức độc lập về văn hóa thì chúng ta đã bị đồng hóa như hầu hết các dân tộc Bách Việt khác vào thời kỳ Bắc thuộc. Nếu nền văn hóa Việt Nam không có bản lĩnh của mình thì không thể chủ động tiếp nhận văn hóa Nho giáo (một sản phẩm của văn hóa Trung Hoa) bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo “tam giáo đồng nguyên” để tổ chức xã hội trong giai đoạn văn hóa Đại Việt thuộc Lớp Văn hóa giao lưu với Trung Hoa và khu vực…Từ đó, cho phép nhận định rằng ý thức độc lập về văn hóa của dân tộc Việt Nam - chủ thể Văn hóa Việt Nam với Văn hóa Trung Hoa là đã có sẵn trong tâm thức của dân tộc, trở thành những quy tắc ứng xử chung cho cả dân tộc không phụ thuộc vào nhận thức của tầng lớp nho sĩ yêu nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. LÊ NGỌC TRÀ (tập hợp và giới thiệu) 2006: Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận. NXB Giáo dục.
2. NGUYỄN THỪA HỶ 1999: Lịch sử văn hóa Việt Nam truyền thống giản yếu. – HN: NXB ĐHQGHN.
3. PHAN NGỌC 2002: Bản sắc văn hóa Việt Nam. NXB Văn học.
4. GS.VS.TSKH. TRẦN NGỌC THÊM 2006: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (in lần thứ tư). NXB tổng hợp Tp. HCM.
5. GS. TRẦN QUỐC VƯỢNG 2001: Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm. NXB Văn học.
