Bài viết của bạn rocknroll hay quá. Hóa ra trong 9 sai lầm trong văn hóa đọc của người Việt mình đều phạm phải cả
Riêng bài Cách đọc 1 quyển sách mà mình đọc được sớm thì có thể mình đã học tốt môn Đọc sách kinh điển hơn.
Mình xin góp lên đây bài viết của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng về sách và cuộc đời rất thú vị. Trong bài viết có câu "
chỉ nên đọc sách của những người đắc đạo", mình thấy bài viết này cũng nên đọc vì nó đã được viết ra bởi một người... đắc đạo.
[center]SÁCH NHƯ LÀ CUỘC ĐỜI[/center]________________________________________
Là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về nghệ thuật, Phan Cẩm Thượng có viết một chùm bài tùy bút về việc đọc sách và viết sách. Nhân ngày đọc sách thế giới (23-4), chúng tôi xin giới thiệu loạt bài này.
[center]Bài 1: Cuốn sách đầu tiên[/center]
Lúc tôi mới biết đọc, biết viết là lúc chiến tranh lan ra miền Bắc. Lên ô tô đi sơ tán, cha nhét vào túi tôi bộ truyện Tam quốc diễn nghĩa, của La Quán Trung, gồm 13 tập. Giữa rừng xanh núi đỏ, ngoài việc lang thang dưới các tán cây chò cao ngất hoặc trong đồi cọ, tôi chỉ còn biết ăn sắn luộc và đọc Tam quốc.
Như mọi đứa trẻ con, chúng tôi thoạt tiên chỉ biết truyện này là những cuộc đấu liên miên của những anh hùng mã thượng, dần dà hâm mộ vài nhân vật trong đó. Bạn tôi, khóc rống lên suốt ngày nhất định đòi bố đổi tên là Triệu Tử Long. Ba thế lực Ngụy, Thục, Ngô phân chia Trung Quốc, mấy chục năm đánh nhau, rồi chết hết cả một cách vô nghĩa, và gia đình Tư Mã lập ra nhà Tấn, thống nhất Trung Quốc.
Sau này tôi biết có hàng vạn đứa trẻ như mình, cả thời thơ ấu chìm ngập trong Tam Quốc, Thủy Hử và không ít người trong số đó sau này đã thành danh. Tôi không biết nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có thế không, nhưng hình như văn của ông đặc giọng văn học dịch (như của Phan Kế Bính).
Tôi phân vân không biết nếu mình lớn lên bằng một cuốn sách khác thì như thế nào, có tốt hơn không, như trẻ con 10 năm trước ghiền Doremon chẳng hạn. Và tại sao, lại sống trong một cuốc sách nước ngoài mà không bằng một cuốn sách của nhà văn Việt Nam. Cuốn sách đầu tiên luôn ảnh hưởng đến cả đời một con người, người ta sẽ lặp lại vài tích cách và số phận trong đó như là định mệnh, và nếu là một cuốn sách dở thì sao nhỉ?
Ai đọc Tam Quốc thoạt tiên cũng thích phe Lưu Bị, ghét phe Tào Tháo, dần đọc lịch sử, thấy Tào Tháo là nhà thơ, nhà chính trị kiệt xuất, mới thấy tiểu thuyết có nhiều chuyện bịa. Và rồi trở thành người đàn ông, nghe bài hát mở đầu phim Tam quốc diễn nghĩa như thế này:
[i]Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy
Lãng hoa đào khứ tận anh hùng
Thị phi thành bại chuyển đầu không
Thanh sơn y cựu tại
Kỷ độ tịch dương hồng
Bạch phát ngư tiều giang chử thượng
Quán khan thu nguyệt xuân phong
Nhất hồ trọc tửu hỷ tương phùng
Cổ kim đa thiểu sự
Đô phó tiếu đàm trung.Nghĩa là:
Cuồn cuộn Trường Giang chảy về Đông / Sóng hoa cuốn sạch những anh hùng / Thành bại phải trái cũng như không/Núi xanh nguyên vẻ cũ / Mấy độ bóng chiều hồng / Bạc đầu ngư tiều trên bãi sông / Kìa xem trăng Thu gió Xuân / Một chén rượu nhạt vui mừng gặp / Xưa nay đâu ít chuyện / Bất quá trận cười sông. Xem ra thì không phải bình luận gì nữa, tiểu thuyết chính là những chuyện đảo điên nhất của cuộc sống, kết cục cũng là hư vô. Đây cũng là ý tưởng của nhiều sách truyện, mà sau đó tôi được đọc.
Ở nơi sơ tán, người ta tổ chức thi đọc thuộc bài thơ 30 năm đời ta có Đảng của nhà thơ Tố Hữu, phần thưởng là một thúng thóc. Mọi người vô cùng ngạc nhiên khi đứa cháu lên ba của tôi xung phong lên đọc, hóa ra nó đọc bài thơ ngắn Cẳng đậu đun hạt đậu mà nó thuộc khi nghe tôi đọc Tam quốc. Tôi mới để ý rằng, đối với trẻ con tất cả thơ trên đời này cũng chỉ là thơ mà thôi và sách nào cũng như sách nào vậy. Và mọi nền giáo dục đều rất chủ quan khi nghĩ rằng những cuốn sách mình soạn cho trẻ con là sách tốt nhất.
40 năm sau, khi đã đọc vài bồ sách, tôi mới thấy được một lời của triết gia Ấn Độ Vivekananda: "
Chỉ nên đọc sách của những người đắc đạo", còn bao nhiêu sách vở trên đời đều nhảm nhí cả, thì đã quá muộn. Những điều ta gặp phải trong cuộc sống và những cuốn sách ta đọc, hình thành một dòng chảy tư duy bất tận trong đầu, mà chính ta cũng không bắt nó ngừng được. Đó thực sự là một dòng sông ô nhiễm trùm lên cái thiên lương của con người, đặc biệt vào lúc tuổi tác trở nên bảo thủ và thực sự biến thành bệnh tật hơn cả môi trường độc hại.
Nhưng sách nào là sách tốt để đọc từ tuổi ấu thơ? Rất khó để biết đấy, trừ một vài người có thiên tư và đặc biệt ngay từ nhỏ. Thỉnh thoảng tôi cũng tìm đọc vài nhà văn chưa nổi lắm, như cuốn Nước mắt của tuyết trắng của Phạm Thuận Thành viết về những người đi xuất khẩu lao động ở Liên Xô cũ, rất chân tình và có những nhận xét thú vị:
"Thủ trưởng thì ăn cắp tiền của Nhà nước, người công nhân không có quyền hành gì thì ăn cắp thời gian". Hay cuốn Ổ rơm của Trần Quốc Tiến nêu ra những tệ hại của chức sắc cấp làng xã, đến mức có thể tóm tắt phẩm cách của họ (những cán bộ thoái hóa) như sau: ngu dốt, tham lam, đồi trụy. Cuốn sách lấy từ thực tế của một vùng nhỏ ở Nam Định, mà tôi thấy nhiều nông dân ở ở Bắc Ninh vốn rất ít khi đọc sách cũng chuyền tay nhau. Tôi đến Nam Định trò chuyện với nhiều người và nêu ra ý rằng, dù sao cũng là văn chương, có nên hiện thực một cách thô thiển như thế hay không? (Chi tiết để bát phân trước kẻ tham nhũng, bảo rằng nếu muốn vơ tiền thì phải "ăn cứt", hắn cầm ngay cái bát). Có người trả lời rất hay rằng: "Đã đến lúc sự thực phải được nêu ra như nó vốn có. Đó mới là văn chương".
[center]
Bài 2:Sách trong lòng người[/center]
Di tử nhất quỹ ngọc,
Bất như nhất quỹ thư,
Thư trung tự hữu ngọc (Ấu học ngũ ngôn thi)
Dịch nghĩa:
Để cho con hòm ngọc
Không bằng để hòm sách
Trong sách tự có ngọcTôi đưa vài quyển truyện cho một số trẻ con đọc, phần đông thích Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài, số ít thích Truyện cổ Andersen và Lẵng quả thông của Pautovsky, và gần như không em nào thích Hoàng tử bé của Saint Exupery.
Có lẽ nếu làm một trắc nghiệm người từ nhỏ đã thích đọc sách khó hiểu hẳn cuộc đời phải bất trắc hơn người chỉ đọc được sách dễ hiểu. Người thông minh phạm vi hoạt động lớn hơn, nhiều quan hệ hơn người ngu đần, do vậy mà cũng gặp nhiều rủi ro hơn. Thánh nhân đãi khù khờ chính là chỗ này.
Gần đây rất nhiều trẻ không thích đọc bất cứ sách nào, kiến thức chúng thu lượm được hoàn toàn thông qua chơi game và chat qua mạng, nhưng chúng cũng không phải là những đứa bé trong lành. Cách đây 30 năm nhiều trẻ con đọc cả Hồng Lâu Mộng và Liêu trai chí dị. Thế giới và con người khoảng 20 năm nay hoàn toàn đổi khác. Không thể căn cứ vào những người đọc nhiều để đánh giá những người đọc ít. Con người bây giờ thích được thỏa mãn và kích thích vào các giác quan, dù rất thụ động, cái gì phải suy ngẫm nhiều và sâu thì người ta thường tránh ra. Lại không ít người tài cao học rộng vẫn bất hạnh nghèo khổ, nhiều người ít học lười biếng nhanh chóng thành đạt, giàu có. Vậy thì biết noi theo ai đây, huống hồ có hạnh phúc hay không lại là chuyện khác.
Ở làng, thấy hai anh chàng cầm gạch non thách nhau viết đúng tên mình lên tường. Thì ra cả hai đều chưa học qua hết lớp một, không biết đọc biết viết. Nhưng cả hai đều khỏe mạnh trực tính, nuôi dạy con cái tốt. Một người quanh năm quét dọn cho chùa làng, sư cụ bảo với tôi: "Người này chắc lên Niết bàn trước chúng ta". Ông Bảo Hưng, một chủ doanh nghiệp may có tiếng, con nhà địa chủ chưa kịp học đã chạy bán xới lên Hà Nội làm thuê, nhưng ông từng trải, và lúc nào cũng tự học bằng cách đọc sách. Thấy bài thơ hay, như Màu tím hoa sim của Hữu Loan, ông photo thành vài bản, gọi con gái lên và đưa cho. Một cảnh thật xúc động. Ông khoe: "Tôi vừa mua một cây cảnh 72 triệu, và mua bức tranh 5 triệu". Tôi nói:"Sao anh không mua một bức tranh như mua cái cây". Bảo Hưng đáp:"Muốn hiểu cây phải mất 15 năm, hiểu tranh cũng vậy, mà tôi thì hết thời gian rồi. Cái cây thì sau này con tôi có thể bán được, còn bức tranh nếu phải bán đi tôi cũng ngượng". Đấy là lời nói của người tay trắng mà thành triệu phú.
Cha tôi trước khi đọc bộ Nho giáo của Trần Trọng Kim thường thắp mấy nén nhang. Có lần đọc một tiểu thuyết, đến đoạn ngày đầu con trai đi học, bà mẹ là áo cho con, mà khóc nhiều đến mức không phải vẩy nước vào áo nữa, ông bỗng sụt sịt chấm mắt. Là một cán bộ nghèo ông không bao giờ là quần áo, trừ dịp lễ Tết đều do chị tôi làm cho. Chị tôi thường ngậm một ngụm nước to rồi phun như mưa vào áo quần, nước mắt không thể nào nhiều như vậy được. Thế hệ cha tôi thật dễ xúc động, cũng dễ bị lừa, sau này tôi nghĩ hồn nhiên hạnh phúc hơn cái gì cũng biết rành rọt. Hình như Puskin viết:
Ban ngày tôi bị lừa/ Đêm mơ tôi vẫn thích.
Trong Liêu trai chí dị có câu chuyện, gã học trò nọ dốt nát đi thi được một người nhắc bài, gã hỏi người nhắc mình sao anh lại thông kim bác cổ như vậy. Tay này đáp:"Ta vẫn vốn là học trò thi mãi vẫn trượt, chết đi tức khí hóa thành con mọt sách". Kẻ đọc sách xưa là một giai tầng được kính trọng. Người xưa có nói:
Mọi nghề đều hèn hạ/ Chỉ có đọc sách là cao siêu. Đọc sách, đi thi, làm quan là chương trình làm người của bọn kẻ sĩ.
Ngày nay ai cũng đọc sách, nên kẻ đọc sách chẳng có gì quan trọng nữa. Trước đây sách ít nên người ta ham đọc, bây giờ sách nhiều người ta lại đọc ít đi. Trước đây dẫn dắt tư tưởng là các triết gia, các nhà văn hóa, bây giờ là các nhà kinh doanh. Những người xưa kia cưỡi lạc đà, thuyền buồm rong ruổi sa mạc và biển, nay họ cưỡi máy bay và nặn ra các chính phủ. Có ít người đọc sách cho vui, có nhiều người đọc sách để kiếm tiền. Ở thế kỷ 19 muốn có cuốn sách đọc không dễ, có sách lại phải biết chữ Hán chữ Nôm. Giữa thế kỷ 20, sách vở bắt đầu nhiều lên, lại in bằng chữ quốc ngữ, số lượng trí thức tăng lên hàng trăm lần so với thời phong kiến.
Nhưng sách càng dễ kiếm dễ đọc thì trí thức giả càng nhiều. Hỡi ôi nếu theo đúng chương trình thì ta có tận những 20 ngàn ông tiến sĩ. Song tăm và ớt thì mua của Thái, chăn gối thì mua ở Tàu, phim thì mua của Hàn Quốc, chưa kể các mặt hàng công nghiệp điện tử cao cấp..thế thì nhiều trí thức thế, liệu hàng nội địa có chiếm được thị trường không. Khi con cái người có tiền đều cho đi học ở nước ngoài cả, không khéo mực lại đọng trên nghiên sầu.
[center]
Bài 3:Viết sách để học[/center]
Viết sách cũng là một cách để học(Nguyễn Hiến Lê)
Tôi sống trong chùa, ngắm những pho kinh Phật đồ sộ, thật là kinh hãi, không biết sao người ta viết ra ngần ấy chữ nghĩa, rồi đổ hết cho là lời của Phật. Và hiểu thế nào hai chữ giác ngộ, giác ngộ cái gì và giác ngộ thế nào.
Phần đông các cụ bà 60 tuổi đổ lên không hiểu một chữ nào trong những lời họ tụng. Đối với các cụ, Phật là đấng thiêng liêng có nhiều mắt để nhìn thấy mọi nỗi khổ của chúng sinh, có nhiều tay để cứu vớt mọi chúng sinh, việc của họ là yêu chồng thương con làm việc thiện.
Từ kinh Phật, lần ra được một ý nghĩa: thế giới mà ta nhìn thấy chỉ là thế giới mà ta nhìn thấy, không phải là như nó có. Hóa ra trí tuệ của mình là sai lạc cả. Ví dụ giản đơn ngôi nhà cao 4 thước đối với con người, thì chỉ là một thước đối với con mèo, dù ta cao 1,6 thước và con mèo cao 20 phân. Mỗi một con mắt nhìn thế giới một kiểu, do vậy mà hình ảnh thật của thế giới thế nào không ai biết.
Tôi bắt đầu ngo ngoe viết lách khi còn là một thiếu niên, khi đọc truyện của các nhà văn. Tôi thích câu nói của Jose Marti:
Trong cuộc đời, mỗi người nên trồng một cái cây, đẻ một đứa con và viết một cuốn sách. Có lẽ câu nói ấy chỉ cuộc đời mỗi người đều phong phú, đáng để kinh nghiệm cho đời sau, không bao hàm ý nghĩa viết sách để trở thành nhà văn.
Ý nghĩ viết cái gì đó cũng dần qua đi, do vốn liếng quá nghèo nàn, cơm áo luôn níu kéo, cho đến khi người thầy của tôi bảo viết chung, một, rồi hai, rồi ba cuốn sách. Gửi vợ con và đồng lương còm về nhà ngoại, tập hợp tài liệu trong hai năm, tôi chui vào buồng làm việc liền một năm cả ngày lẫn đêm, khi ra thì phờ phạc như con ma.
Năm 1989, cuốn sách Mỹ thuật của người Việt ra đời. Thầy nói: "Cậu đã có danh vọng, và cậu sẽ ốm vì danh vọng". Càng làm việc nhiều, bao nhiêu người thích thì có bấy nhiêu người ghét. 40 tuổi, khi gần kết thúc một cuốn sách, tôi thường lấy vải quấn chặt quanh ngực mới viết được. Nhớ đến lời của một văn hào: Sau mỗi lần ngòi bút chấm vào mực, thì để lại trong lọ mực một giọt máu. Dù sách của mình chỉ là khảo cứu nghệ thuật nhì nhằng, chứ chẳng phải là văn chương gì cả. Dẫu sao để viết được cũng phải đi khắp đất nước, xem xét hàng ngàn tác phẩm, do vậy mà cũng từng trải hơn, hiểu và yêu non sông gấm vóc hơn.
Đọc ở đâu đó, khi Thi Nại Am viết Thủy Hử, ông có đến 40 người hầu, 20 mươi đứa thiếu niên chuyên đi mời chúng bạn về kể chuyện, 20 ông già chuyên ghi ghép chuyện của 108 vị anh hùng. Thế mà ông vẫn phải thốt lên: "Nếu người đời không đọc truyện này, thì để cái thân sau của ta đọc vậy". Thi Nại Am phải ngồi tù vì viết chuyện phản loạn, một người bạn quan chức vào ngục thăm bảo rằng: "Ông làm thế nào để vào ngục, thì hãy làm như thế để ra ngục". Thi bèn viết Hậu Thủy Hử cho 108 anh hùng quy hàng, Xưa Phan Văn Chú viết Lịch triều hiến chương loại chí, ông được vua ban vài lạng cao hổ cốt, vài gói chè và mấy cây bút lông, nhuận bút có vậy.
Văn sĩ hôm nay có kẻ giàu vì viết lách, lại có người bỏ tiền tự in, vất vả vô cùng, nhưng hình như viết là một cái nghiệp, ma quỷ ấn bút vào tay, không viết không chịu được. Vào hiệu, bạt ngàn sách vở, riêng thơ và sách tham khảo cứu phần nhiều đáng ngờ lắm. Tình thơ thì rung động vì cả tiếng kêu của con tắc kè, khảo cứu thì sách nọ chép sách kia. Ngạn ngữ phương Tây nói: Viết một cuốn sách là giết chết một cái cây.
Nhiều khi tôi cảm thấy nếu không có Thần Phật phù trợ chắc không thể làm xong một việc lớn. Trong 10 năm, tôi đi nhiều đình chùa và lăng mộ, ghi chép và chụp tài liệu cho cuốn Điêu khắc cổ Việt Nam. Nơi gần có thể nhờ nhà nhiếp ảnh, nơi xa tự làm lấy. Chỉ tính tiền xe cộ, ăn ở có thể xây được cả ngôi nhà. Tôi bèn đi dạy học cho cho nhiều trường trung học nghệ thuật các tỉnh, từ đó theo học sinh về các làng quê, đi đến đâu cũng được sự tăng nhân dân giúp đỡ, leo lên đỉnh chùa, bệ tượng cứ như ở nhà mình và chưa bao giờ có ai hỏi về giấy tờ công tác.
Soạn xong sách được họa sĩ Trương Hạnh - giám đốc NXB Mỹ thuật - để cho tự do trình bày, tự chọn nơi in. Người nhận coi in là anh Ngoạn cẩn thận vô cùng. In xong ông Hữu Ngọc ở Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển mua nhiều sách phát cho các thư viện các tỉnh. Ông nói: "Cậu tuy không được đồng nào, nhưng sách của cậu quảng bá mọi nơi". Tôi không biết cách nào để cám ơn bao nhiêu người như vậy, có những người tôi chưa từng biết mặt như anh Vũ Công Điền, chụp cho tôi toàn bộ điêu khắc Champa trong bảo tàng cổ vật Chàm Đà Nẵng, mà không hề đòi hỏi gì. Sau này đi thăm lại các di tích, thấy một số tượng Phật bị mất trộm, đó là điều làm tôi còn mãi ấy náy.
Thế hệ chúng tôi nhiều xa lạ với máy vi tính, chủ yếu viết tay với bút mực. Nhìn thấy bản thảo chữ viết lằng ngoằng trên giấy trắng thú vị hơn nhiều so với chữ in ngay ngắn, và sau đó nếu lần đầu trông thấy quyển sách của mình được xuất bản thì mừng vui vô cùng.
Ông Phạm Văn Bổng, một nhà sưu tập ở Hàng Buồm, nay đã mất, có mua nhiều bản thảo hồi đầu của Nguyễn Huy Thiệp, cho tôi xem. Nhà văn viết chữ rất ngay ngắn, thưa chữ thưa dòng, trên một loại giấy thông dụng, có lẽ để cho dễ sửa, đầu truyện đôi khi vẽ thêm một hình minh họa. Tính chuyên nghiệp thể hiện ngay từ bản thảo. Thầy tôi ông Nguyễn Quân thì có thể viết ở bất cứ nơi đâu, giấy gì, bút gì cũng được, chữ không đẹp, nhỏ nhưng khá dễ đọc, viết hàng trăm trang nét chữ không khác, chứng tỏ tinh thần rất khỏe mạnh. Gặp tôi khi còn là sinh viên, ông hỏi: "Cậu có ngồi được 4 tiếng liền không?". Ông và tôi cũng thường viết cả đêm, trong khoảng 20 năm liền, giờ thì chịu.
[center]
Bài 4 & hết: Tặng sách cho ai[/center]
Chỉ nên đọc sách của những người đắc đạo(Vivekananda)
Những người viết nhiều thường không đánh giá cao những người chữ đẹp. Nguyễn Quân nói: "
Người chữ đẹp chỉ giỏi rán đậu cho vợ".
Ông cũng chê những người chơi cây cảnh: "
Những tay kìm nén một cái cây còi cọc mấy chục năm không thể làm bạn được". (Chỗ này tôi phải xin lỗi các nhà bonsai).
Hình như người viết bây giờ chia làm hai phái, phái viết tay và phái viết bằng vi tính. Nhiều người già vẫn viết tay, nhiều người trẻ viết máy, cảm xúc viết chắc cũng khác nhau, cũng giống như vẽ tranh sơn mài, các ông già vẫn thích bóng, nhẵn, phẳng, hình hài gần sự thực, thanh niên đắp, gạch, màu sắc hỗn độn hình thể mới ưa.
Nghệ thuật đôi khi vẫn cần lạc hậu. Sự lạc hậu được núp bóng truyền thống. Bút lông, bút chì, bút sắt, bút máy, bút bi rồi máy vi tính, có lẽ không đơn giản là sự thay đổi về kỹ thuật, sự thay đổi này có lẽ nói lên rất nhiều điều về con người.
Đứng ngoài nhìn cuộc sống của văn nghệ sĩ ai cũng thích. Thật là tự do, phóng túng, râu tóc quần áo đều khác người, rượu chè và nói phét, lại được nhiều chị em hâm mộ. Ở trong giới văn nghệ, mới biết đây là một môi trường không hay ho gì. Lúc nào cũng bức xúc với xã hội và chính trị, tiền bạc thì thất thường, gia đình thường lộn xộn, còn nghệ thuật luôn là cái đích rất ảo tưởng. Nếu định chui vào chỗ khó để rèn luyện thì được, chứ môi trường này không thành tài chắc chắn thành tật.
Ở một nơi như vậy, người có tài có lao động còn khổ, nhưng lại thấy không ít người bình an, nhìn kỹ thấy họ đang làm một thứ giả nghệ thuật. Hóa ra trong nghệ thuật có không ít anh nghệ sĩ giả trà trộn vào.
Hồi còn ở trên phố cổ, ban đêm thảng hoặc có vài nhà thơ say mềm từ quán rượu nào đó ghé qua. Họ lục rượu ở nhà tôi, uống cho thỏa thích, ngâm thơ vang cả hàng xóm, và tự hào nào có thua kém gì Lý Bạch, Đỗ Phủ. Rồi họ lôi từ trong túi một vài tập thơ (in rất đẹp) và quẳng ra đất, nhảy lên và đạp cho tơi tả cả bìa: "Như cứt, thế mà cũng gọi là thơ, này cho mày" - họ hét lên như vậy, rồi bỏ đi. Những tập thơ này chắc do các nhà thơ khác tặng.
Trước những tập sách bị cư xử như vậy, tôi cũng không đọc, mà gom chúng vào một cái vại sành. Có ngày bỗng nghe trẻ con quanh nhà đọc những câu thơ tình rất ngộ nghĩnh, tôi bèn lục lại những tập thơ kia, mới thấy nguyên bản từ đây. Đại loạn có câu, mà tôi xin phép phải diễn nôm na cách khác:
Anh nhảy tọt vào trong lòng em / Như bom Mỹ khoan sâu lòng đất hồi chiến tranh phá hoại....Vô cùng xin lỗi bạn đọc và các nhà thơ khi viết những dòng này. Điều mà tôi muốn nói là không nên tặng sách cho các thi hào, danh nhân, trân trọng nhất là họ xếp lên giá sách và không bao giờ đọc.
Năm 1989, khi cuốn Mỹ thuật của người Việt của hai thầy trò tôi ra đời. Nhuận bút được 500 ngìn đồng, giá sách là 2 nghìn rưỡi. Thầy tôi nói đừng lấy tiền nữa mà lấy bằng sách, giữ lại một số, còn đem tặng bạn bè. Số sách tặng có lẽ 200 cuốn. Vài năm gần đây, khi dạy lịch sử mỹ thuật, tôi nói với học sinh nên tìm cuốn sách đó đọc, họ đã mua lại được ở hiệu bán sách cũ. Nhiều cuốn chưa được đọc lần nào, còn nguyên chữ đề tặng của Nguyễn Quân cho danh nhân này nọ.
Tôi cũng hay mua sách cũ, trong đó có nhiều cuốn quý như Thơ Đường, Thơ văn Lý Trần.... đều do các danh nhân bán đi. Đương nhiên không thể bắt con người nhất nhất trọng vọng mãi một thứ, người ta cũng có quyền được bán, nhất là đang túng thiếu. Cho đến nay việc tặng sách không có gì thay đổi. Quan chức các ngành nhận được nhiều sách biếu nhất, thứ đến các giáo sư, tiến sĩ, danh nhân, rồi mới đến bè bạn. Sinh viên thì những người cần đọc nhất thì chả ai tặng. Khi còn bé một thầy giáo dặn tôi: "
Đừng biếu xén cho người giàu, vừa chẳng được gì mà họ vẫn khinh. Nước chảy chỗ trũng là điều chẳng ra gì".Sách vở là tài sản quý báu nhất của con người, cung cấp cho ta biết bao trải nghiệm và chia sẻ.
Đọc Lê Quý Đôn, tôi thấy một bài châm rất hay:
Ít tắm nắng chải đầu. Uống rượu ít ăn rau nhiều. Ăn thịt ít ăn cháo nhiều. Nhiều khi nhắm mắt ít khi mở mắt. Nhiều khi ở riêng ít khi ở chung. Đọc cuốn Giàu và Nghèo, có câu:
chẳng ai lại cắn vào tay kẻ nuôi mình. Câu này nên treo ở ban chống tham nhũng.
Khi bắt đầu đọc được chữ trong sách báo đứa trẻ thấy vui làm sao, cho đến ngày mới cầm cuốn sách đã buồn ngủ díp mắt mới buồn làm sao. Chẳng thế mà Lý Bạch ngâm:
"Triêu như thanh ti mộ thành tuyết"
(Sớm còn biếc như tơ, chiều đã trắng như tuyết), để nói đến cái thoáng qua của cuộc đời.
[center]
Nguồn: PHAN CẨM THƯỢNG - Thể thao và Văn hóa[/center]