Bài tập 6
ĐỊNH NGHĨA TÂM LINH1. Tìm tất cả định nghĩa đã có:
- Theo tác giả Nguyễn Đăng Duy trong cuốn Văn hóa tâm linh (Nxb Văn hóa dân tộc 2002) thì: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường. Là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.
- Sách Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển (Lê Minh (chủ biên), Nxb Lao động Hà Nội, 1994): “Trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy. Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức được qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó được, đánh giá được qua những cụ thể nhất định thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung, nhưng lại không thể thiếu được ở con người. Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó”.
- Sách Các lạt ma hóa thân –Tác giả Lobsang Ramba – T.Rechung, Lê Nguyễn và Đỗ Đình Hồng dịch, Nxb Văn hóa dân tộc, viết: “Tâm linh có nghĩa là thanh khiết thoát khỏi mọi biểu hiện kể cả thời gian sáng tạo, ý nghĩa của điều này chỉ có thể nhận biết khi nào trí tuệ hay tâm thức hướng ngoại quay về với chất tâm linh”
- Cuốn sách Tâm linh Việt Nam của PGS. Nguyễn Duy Hinh (Nxb. Từ điển Bách khoa, 2007), từ này được định nghĩa: “Tâm linh là linh cảm về hiện tượng vô hình có ảnh hưởng đến đời sống con người cảm nhận được qua số
ng trải nghiệm lâu dài của một cộng đồng người. Linh cảm về cái Thiêng tác động đến sống chết của con người…”
- Sách Các lạt ma hóa thân –Tác giả Lobsang Ramba – T.Rechung, Lê Nguyễn và Đỗ Đình Hồng dịch, Nxb Văn hóa dân tộc, viết: “Tâm linh có nghĩa là thanh khiết thoát khỏi mọi biểu hiện kể cả thời gian sáng tạo, ý nghĩa của điều này chỉ có thể nhận biết khi nào trí tuệ hay tâm thức hướng ngoại quay về với chất tâm linh”
- Trang Web:
http://www.tudienkybi.com.vn: “Tâm linh” hiểu ngắn gọn là sự nhiệm màu từ trái tim. Sự nhiệm màu hay phép màu thường hay được con người ta thán phục vì sự linh ứng, có thật, hay đúng như mong muốn của họ. Đó là sự thật, là chân lý, là hợp lý
- Trang Web:
http://www.vanhoatamlinh.com.vn: “Tâm linh đang ở trước mặt chúng ta, đang trong đời sống hằng ngày và hằng giây phút của chúng ta. Tâm linh là tinh thần, là giá trị thiêng liêng rất cao đẹp trong mỗi tâm hồn của con người. Ngoài ở nơi đó, không có thế giới tâm linh nào hết và có chăng đó chỉ là cõi tưởng của những ai rơi vào tưởng thức của chính mình”.



3. Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung, có thể tiếp thu, những đặc trưng sai trái, /thiếu cần bổ sung, sửa chửa. Tất cả định nghĩa đều nêu được nội hàm tâm linh là thanh khiết, linh thiêng trong sáng cao đẹp ở tâm hồn, mang một giá trị văn hoá tinh thần/ phi vật thể quan trọng trong mỗi con người, do con người tạo ra, có tính huyền bí, siêu nhiên.
Tuy nhiên đa số định nhĩa theo lối liệt kê, thì không khái quát đầy đủ, còn nêu đặc trưng thì không được xúc tích và ngắn gọn lắm, cần tu từ thêm cho rỏ nghĩa, dễ hiểu và dễ nhớ.
4. Tìm tất cả các các cách sử dụng định nghĩa hiện hành, đối chiếu với kết quả (3) để điều chỉnh, bổ sung các đặc trưng từng nội dung cụ thể của chúng.Trang Web:
http://www.tuyengiao.vn: Tạp chí Tuyên giáo số 4
Văn hóa tâm linh - Lý luận và thực tiễn ( 26/5/2011)
“Văn hóa tâm linh là thuật ngữ được hiện diện trên văn đàn vào khoảng mười lăm năm gần đây, nhất là sau khi một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội quốc tế thừa nhận yếu tố tâm linh, một trong bốn thuộc tính của con người (con người xã hội, con người sinh học, con người tâm lí, con người tâm linh). Tâm linh có hai nghĩa: khả năng đoán biết một biến cố sẽ xẩy ra; tinh - khí - thần của người. Từ đó trở đi, một câu hỏi tưởng chừng như ẩn số: “Con người là một bí ẩn” mà nhiều nhà tư tưởng lớn đặt ra ở thế kỷ XIX, được triết học văn hóa giải mã khi nghiên cứu con người: cái tự nhiên và cái phi tự nhiên, lý trí và tình cảm, trí tuệ và bản năng, lý tưởng và tính dục, cái thiêng và cái tục, nhân vị và siêu nhân v.v… Như vậy, khi ghép tâm linh vào văn hóa, thì khái niệm văn hóa tâm linh là hình thái văn hóa của một tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần, “tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của nhà khoa học và nghệ sĩ.
Trong khoa học, sự dự báo, tiên cảm giúp nhà nghiên cứu đưa ra những giả thiết rời rạc, bổ sung cho từng đoạn quan sát bị đứt quãng thành chuỗi giả thiết khả thi để nhà bác học đúc thành giả thuyết. Trong nghệ thuật, nghệ sĩ không dừng lại ở nhận thức lô-gích. Phản ánh là sáng tạo; sáng tạo nghệ thuật đòi hỏi nghệ sĩ cầu viện trực giác, linh tính, chộp lấy phút thăng hoa, thần minh, linh cảm trong quá trình sáng tạo. Trong nghi thức tôn giáo, tín ngưỡng, nhà triết học cổ điển Đức Feuerbach coi mối quan hệ giữa Con người và Thần Thánh nằm ở bình diện tâm linh đặc biệt. Ông viết: “Người theo tín ngưỡng hướng tới Thượng đế cùng với lời cầu nguyện sùng kính, anh ta tin rằng, Thượng đế sẽ tham dự vào những đau khổ, những ước nguyện của anh ta, tin rằng, Thượng đế sẽ nghe thấy tiếng nói của anh ta trong lúc cầu nguyện”.
Mác, Ăngghen, Lênin và nhiều nhà mác xít chân chính không kỳ thị tôn giáo, tín ngưỡng, trái lại tôn trọng vì coi đó là nhu cầu tinh thần của một bộ phận cộng đồng người. Mác và Ăngghen khi bàn về triết học Feuerbach đã coi con người cũng là một “đối tượng của cảm giác”. Còn nhà văn lớn M. Gorki đoán định rằng, Thượng đế là bức ảnh chụp óc tưởng tượng của con người về chính mình, coi như một thực thể đang ước nguyện và có thể trở thành đấng toàn tài, toàn toàn năng và chí thiện.
Văn hoá tâm linh có những đặc tính sau:
-Tính thiêng: Khi chúng ta nói, vùng đất địa linh nhân kiệt, hào khí núi sông, cơ trời vận nước, miền đất rồng cuộn hổ ngồi, hồn thiêng núi rộng sông dài, khí phách cha ông thuở trước vv… chính là Tinh, Khí, Thần của một làng văn hoá linh thiêng, với những con người linh thiêng của một làng như Thành Hoàng làng, một cụ Tổ làng nghề, những anh hùng chính sử như Trần Hưng Đạo, nguyễng Huệ. vv… đều là đối tượng sùng kính, ngưỡng mộ tôn vinh và noi gương. Nhà tâm lý học Phạm Minh Hạc trong một công trình nghiên cứu con người, có nói đến tâm linh, một vấn đề học thuật và hiện tượng xã hội phức tạp, tế nhị cũng tìm ra được cách cắt nghĩa: “Có thể coi tâm linh là một khái niệm tâm lý nói lên sự gắn kết ba phạm trù thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai. Chỉ ở con người mới có các phạm trù thời gian và sự gắn kết chúng lại với nhau”. Có linh hồn hay do thần giao cách cảm hoặc các luồng điện hiện lên trong trường sinh học? Hay chỉ là chuyện người đang sống hướng tất cả tinh thần, khí chất, tình cảm về người đã khuất!? Đây là đề tài đòi hỏi sự nghiên cứu công phu của nhiều ngành khoa học. nói chung, việc hướng về cội nguồn, biết ơn người đã khuất, tri ân công trạng của các bậc tiên hiền, tôn vinh những danh nhân có công với nước, với dân là một phong tục đẹp ở nước ta. Ở đây không có chỗ cho những hành vi mê tín, dị đoan, hiện tượng trục lợi tình cảm linh thiêng của con người đối với Thần Thánh, cho những kẻ làm ăn phi pháp “buôn Thần bán Thánh” để lừa bịp những ai nhẹ dạ, cả tin.
- Tính dung hoà: Giáo lý của các tôn giáo lớn ở nước ta có một đặc điểm chung là tính dung hoà. Các tôn giáo lớn như: Phật giáo, Thiên chúa giáo, Đạo giáo khi du nhập vào nước ta đều được bản địa hoá, dân gian hoá, phong tục hoá để dễ bề truyền bá. Giáo lý tuy có khác nhau, nhưng ở cả ba đều mang tính nhân văn, lấy con người làm trung tâm: yêu con người, cầu mong xã hội thái bình, quốc thái dân an, mở rộng lòng bác ái công bằng, từ bi, hỷ xả, triết lý sống gắn với thiên nhiên, tốt đời đẹp đạo, sống phúc âm trong lòng dân tộc v.v…
Trên thực tế, đại đa số nông dân, thợ thủ công, người buôn bán không hết những triết lý sâu xa của đạo, chỉ biết việc cầu phúc, chuyện quả báo luân hồi, từ bi, bác ái, cứu khổ, cứu nạn, tu nhân tích đức để hưởng hạnh phúc kiếp sau. Đây chính là dáng nét lấp lánh của văn hoá tâm linh.
- Năng lực dự báo nhờ vào linh tính: Ở cấp vi mô là số phận con người, ở cấp vĩ mô là cơ trời vận nước. Linh cảm, linh nghiệm, linh tính là tiền đề của năng lực dự báo. Theo nhiều nhà triết học - nhân học thì linh tính là thuộc tính kỳ diệu của con người. Linh tính giúp nhà khoa học trong lúc khảo sát giới tự nhiên, các hiện tượng xã hội hay thế giới nội tâm con người để rút ra những kết luận thực tiễn khái quát một cách chính xác. Nhưng trên thực tế, quá trình tư duy của con người không đủ sức giải thích được mọi hiện tượng, mọi sự quan sát, những khả năng mà lý tính bất lực, nên con người tìm đến những khả năng ngoài lý tính,
Mức độ nào đó gọi là tâm linh.
-Tuy nhiên tâm linh nếu không hiểu đúng sẽ dẫn đến tiêu cực là mê tín - dị đoan. Mê tín là lòng tin đến mê muội, cuồng si, thái quá; còn dị đoan là điều quái lạ, huyền hoặc do tin mà có. Do khoa học (đặc biệt là khoa học về nhân học) chưa phát triển, con người bất lực, hoài nghi trước sức mạnh của tự nhiên, mất lòng tin vào những kẻ nắm quyền lực (trong chế độ ta là sự quản lý vừa thiếu tri thức vừa buông lỏng, một số quan chức thiếu gương mẫu, trình độ dân trí thấp (mặc dầu ở họ trình độ học vấn không thấp).
- Thời cổ đại, Đạo giáo có gốc ở quan niệm ma thuật, kỳ phương dị thuật, xem sao, bói rùa, đồng bóng, cúng quỷ, chữa bệnh bằng bùa phép. Giáo sĩ của Đạo giáo gọi là pháp sư có tài chữa bệnh, vẽ bùa đốt cháy rồi hoà vào nước cho người bệnh uống thì khỏi (tên phù thuỷ có từ đấy). Vào Việt Nam, một nước nông nghiệp lạc hậu, với thế giới quan phong kiến kéo dài nhiều thế kỷ, Đạo giáo phát triển rất phức tạp. Có đạo giáo Thần tiên và đạo giáo Phù thuỷ. Đạo giáo Phù thuỷ diễn biến trong đời sống tâm linh rất nặng nề, hỗn tạp, kéo dài cho đến tận ngày nay, khi thời đại khoa học phát triển như vũ bão. Nhiều người dân vẫn theo, vẫn tin mà không biết mình đang đi theo vết xe đổ của Đạo giáo Phù thuỷ.
Dưới thời Nguyễn, trong Điều lệ hương đảng của Gia Long, trong mười huấn điều của Minh Mạng đều nói tới việc chống Đạo giáo Phù thuỷ như mê tín, dị đoan, kỳ phương, dị thuật, bùa mê thuốc lú. Điều đó cho thấy, để an dân, dân giàu, nước mạnh, thì cần đấu tranh xoá những hủ tục lạc hậu, không có căn cứ khoa học.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có từ lâu đời, là nét đẹp văn hoá cần được bảo tồn và phát huy. Bảo tồn cái Đức cái Tâm của con cháu đối với các bậc tiền nhân. Người còn sống tin rằng, Tổ tiên, ông bà đã khuất là thiêng liêng, linh hồn vẫn còn “sống” bên cạnh con cháu. Những ngày Tết, lễ, những ngày giỗ … Tổ tiên, ông bà sẽ về phù hộ độ trì cho con cháu, hoaặc quở trách khi làm điều sai trái. Nhưng không vì thế mà tổ chức cúng linh đình tùm lum gây hao tốn cho gia đình và xã hội, đó là điều không nên. Hay việc xem sao đoán mệnh cũng là điều vô bổ, chuốc khổ vào thân (nều coi nhằm sao xấu) cần tránh.
Tục “Hái lộc, “Xin lộc” đầu năm nói chung là tốt, nhưng làm quá trớn như hái cả cành, luôn bông và chen lấn tranh giành để có lộc (như đã từng xãy ra trong một số lễ hội vừa qua là không tốt).
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại). Xét về tính chất, Tâm linh là một hiện tượng chung phổ quát diễn ra trong toàn bộ đời sống xã hội từ Đông sang Tây,
Nhưng xét theo mức độ thì, cao hơn tâm linh là Tín ngưỡng.
6. Xác định đặc trưng loài (Khu biệt khái niệm được định nghĩa với khái niệm khác cùng bậc).- thuộc phạm trù:Văn hoá phi vật thể (Phân biệt văn hoá vật thể);
- Cái thiêng (phân biệt cái tục);
- Siêu nhiên (phân biệt tầm thường)
- Do con người tạo ra (Loài vật không có tâm linh);
- Ở Gò Tháp (Phân biệt các nơi khác)
7. Lập sơ đồ kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại.
Sản phẩm cuối cùng:
Tâm linh là hệ thống giá trị tinh thần thiêng liêng, phổ quát do con người tạo ra mang tính siêu nhiên để phục vụ cho mình.