3.1. Định vị đối tượng (CTK).

3.2 Lập đề cương chi tiết.
3.2 Lập đề cương chi tiết.
I. LÝ DO NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶT VẤN ĐỀ.
Đông Nam Bộ bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai và Bà Rịa-Vũng Tàu. Với tổng diện tích tự nhiên là 23,6 nghìn km2 (chiếm 7,1% diện tích cả nước), dân số khoảng 14,025 triệu người (chiếm 16,34% dân số cả nước), đây là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, dẫn đầu cả nước về GDP (chiếm 42%), trong đó, kim ngạch xuất nhập khẩu, giá trị sản xuất công nghiệp, giá trị hàng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài. Vùng Đông Nam Bộ có cơ cấu kinh tế đa dạng và tương đối hoàn chỉnh, đóng vai trò quyết định trong chiến lược phát triển cho cả khu vực hiện nay cũng như trong tương lai.
Trong các tỉnh, thành Đông Nam Bộ, chỉ có tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh là có biển. Với chiều dài bờ biển khoảng 120km, kéo dài từ bờ biển xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến cửa biển Đồng Tranh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, vùng biển Đông Nam Bộ có vị trí hết sức quan trọng về địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa và quốc phòng an ninh. Do nằm trên các trục giao thông quan trọng của quốc tế và khu vực, có nhiều cửa ngõ ra vào, đặc biệt là trục đường giao thông xuyên Á ra biển và tiếp giáp với khu vực các nước Đông Nam Á đang phát triển năng động. Một trong những nguồn tài nguyên nổi bật của vùng là tài nguyên biển. Việc khai thác nguồn tài nguyên biển một cách bền vững để phát triển tổng hợp kinh tế biển mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường là một trong những chiến lược quan trọng của vùng này.
Đông Nam Bộ cũng là cửa ngõ và là nơi dừng chân đầu tiên trong quá trình người Việt mở đất mở nước xuống phương Nam. Từ cuối thế kỷ 16 đến thế kỷ 17, cư dân từ miền Trung lớp ngược xuôi trên ghe bầu đã chọn những giồng cao ven biển, nơi có cửa sông yên lành đổ ra biển hình thành xóm làng đầu tiên như: cửa biển Lộc An hình thành làng Lưới Rê, sau nay là làng cá Phước Hải (huyện Đất Đỏ); cửa biển Tắc Khái (Cửa Lấp) hình thành làng Giếng Bộng sau này là làng Phước Tỉnh (huyện Long Điền); cửa biển Rạch Sấu hình thành làng cá Cần Thạnh, cửa biển Đồng Tranh hình thành làng cá Đồng Hòa (huyện Cần Giờ). Hình thành muộn hơn là các làng Long Hải (huyện Long Điền), Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam, Long Sơn (thành phố Vũng Tàu), Bình Châu (huyện Xuyên Mộc)...
Cộng đồng ngư dân ven biển đã biết dựa vào thiên nhiên để sinh cơ, lập nghiệp. Sự đa dạng về ngành nghề của cộng đồng ngư dân vùng Đông Nam Bộ đã cho thấy hệ sinh thái vùng biển đã chi phối mạnh đến đời sống, phương thức mưu sinh của ngư dân trong việc ứng phó với môi trường tự nhiên đầy khắc nghiệt để tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, trong khoảng 10 năm trở lại đây, làng cá ven biển vùng Đông Nam Bộ trong xu thế hội nhập, chịu sự ảnh hưởng mạnh mẻ của nền văn hóa hiện đại và quá trình đô thị hóa với tốc độ ngày càng nhanh (có một số làng cá đã trở thành thị trấn), nên ngư dân các làng cá ven biển vùng Đông Nam Bộ phải đối mặt với nhiều thách thức làm cho đặc điểm văn hóa - xã hội của cộng đồng ngư dân ven biển vùng Đông Nam Bộ nảy sinh nhiều vấn đề tích cực lẫn chưa tích cực cần phải được xem xét. Nhiều giá trị văn hóa dân gian truyền thống và tri thức bản địa của cộng đồng ngư dân trước đây đã bị mai một theo thời gian. Những thay đổi trong đời sống và quan hệ xã hội trong mỗi gia đình ngư dân và trong cộng đồng diễn ra nhanh chóng. Sự cố kết cộng đồng không còn khăng khít như trước kia. Tình trạng nhậu nhẹt, cờ bạc, đánh nhau, trộm cắp, tai nạn giao thông, tệ nạn mãi dâm, cho vay nặng lãi... mỗi khi ghe cập bến vào “mùa trăng” hàng tháng, làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của các địa phương thêm phức tạp. Thêm vào đó, những vấn đề an sinh xã hội nổi lên như học sinh bỏ học ở bậc trung học cơ sở, tình trạng lao động trẻ em ở các bến cá, ô nhiễm môi trường, nạn ly hôn, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, “bán lúa non”, vay vốn ngân hàng chính sách để giải quyết việc làm, sự gia tăng hộ nghèo, tình trạng di dân tự do... đòi hỏi chính quyền địa phương phải “đau đầu” tập trung giải quyết.
Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với xây dựng môi trường văn hóa biển để nâng cao nhận thức của ngư dân về biển, đảo, vì văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Văn hóa ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ” đang đặt ra như một nhiệm vụ quan trọng và cấp bách, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của vùng.
Với những vấn đề đặt ra như trên, đề tài “Văn hóa ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ” được thực hiện nhằm những mục đích cụ thể sau:
1. Thông qua đặc điểm địa lý, cơ sở tự nhiên nhằm tìm ra những đặc trưng văn hóa ứng xử của ngư dân Đông Nam Bộ. Qua đó, lý giải những biến đổi trong văn hóa ứng xử của ngư dân với môi trường tự nhiên biển.
2. Góp phần giải mã và nhận diện rõ hơn văn hoá vùng Đông Nam Bộ, bổ sung cái nhìn hệ thống về văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội của ngư dân Đông Nam Bộ và góp phần vào công tác nghiên cứu, bảo tồn văn hoá Nam Bộ cũng như văn hóa biển ở nước ta.
II. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ.
Các công trình nghiên cứu về ngư dân làng nghề ven biển Đông Nam Bộ nói chung chưa nhiều, đặc biệt về văn hóa mưu sinh của ngư dân làng nghề ven biển Đông Nam Bộ thì hầu như chưa được nghiên cứu có hệ thống. Trong khi đó, nghiên cứu về văn hóa biển nói chung và ngư dân ven biển nói riêng được đề cập tương đối nhiều. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Công trình nghiên cứu “Văn hóa dân gian làng ven biển” của Ngô Đức Thịnh xuất bản năm 2000, đã khái quát về sáng tác văn học dân gian, những kinh nghiệm, tri thức về biển, nghề biển, điêu khắc, kiến trúc dân gian, tôn giáo, tín ngưỡng... tạo nên nét văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển. Ngô Đức Thịnh cho rằng người Việt ban đầu không có truyền thống biển và khi có sự giao lưu tiếp xúc với cư dân Nam Đảo, hoạt động trên biển của họ chủ yếu ở tầm “biển cận duyên”.
Công trình “Cộng đồng ngư dân ở Việt Nam” của Nguyễn Duy Thiệu năm 2002 là công trình mang tính tổng quan, cho việc tìm hiểu chung về cộng đồng ngư dân ở nước ta hiện nay. Một số công trình khác như: “Cộng đồng cư dân Việt ở Nam Bộ” của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ năm 2004; “Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam” năm 2004 của Trần Ngọc Thêm; “Con người, môi trường và văn hóa” của Nguyễn Xuân Kính năm 2009 cũng đã đề cập đến nước nói chung và biển nói riêng trong đời sống văn hóa của người Việt...
Dưới góc độ nghiên cứu lịch sử, tác phẩm “Người Việt với biển” của Nguyễn Văn Kim năm 2011 đã tập trung khai thác và lí giải mối quan hệ giữa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài qua con đường biển. Tác giả đã nêu lên truyền thống khai thác biển của người Việt và các cộng đồng cư dân khu vực; tâm thức và tư duy hướng biển của người Việt Nam; các nền văn hoá, không gian văn hoá biển; thể chể biển và mối liên hệ với các thể chế nông nghiệp, thể chế lâm nghiệp; quá trình tiếp giao, truyền bá và ứng đối tư tưởng, văn hoá...
Đối với vùng Đông Nam Bộ nói riêng và Nam Bộ nói chung, một số công trình như:
Đinh Văn Hạnh là người đã có rất nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu văn hóa biển khu vực miền Đông Nam Bộ nói chung và vùng đất Bà Rịa-Vũng Tàu nói riêng với tác phẩm “Lễ hội dân gian của ngư dân Bà Rịa-Vũng Tàu” hay một số bài viết như “Về lễ hội ở Vũng Tàu trước đây và hiện nay”, “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá phi vật thể ở Bà Rịa-Vũng Tàu” được in trong sách “Bà Rịa-Vũng Tàu đất và người”; “Văn hoá biển miền Đông Nam Bộ, nhìn từ lễ hội dân gian của ngư dân”, “Sự phát triển hệ thống tín ngưỡng của người Việt trong quá trình di cư về phương Nam nhìn từ tục Thờ cúng Cá Ông”, “Ngày môi trường thế giới nói về tục thờ Cá Ông” (Tạp chí Khoa học Công nghệ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, số 2 năm 2002), “Một vài yếu tố văn hoá đặc trưng của vùng đất Bà Rịa”, “Lễ hội Nghinh Cô Long Hải, nét văn hoá độc đáo của ngư dân Bà Rịa-Vũng Tàu” (Tạp chí Thông tin Tuyên giáo số 2, tháng 4 năm 2001)... Đây là một trong số rất ít những tác giả đã chú trọng đi sâu nghiên cứu đề tài văn hoá cư dân ven biển Bà Rịa-Vũng Tàu.
Năm 2004, Trần Hồng Liên đã cho ra mắt một công trình nghiên cứu “Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ”. Tác giả đã chọn xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và xã Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang để nghiên cứu về đời sống kinh tế: đời sống của ngư dân biển, đặc điểm, cơ sở kinh tế biển truyền thống và hiện đại; quan hệ xã hội: những biến đổi chính trong xã hội, hiện tượng nghèo và vượt nghèo; đời sống văn hóa: đặc trưng văn hóa trong cấu trúc làng xã, trong tín ngưỡng, tôn giáo, trong tín ngưỡng nghinh Ông và các tập tục kiêng kị. Công trình đã cung cấp một cái nhìn tương đối toàn diện về cộng đồng ngư dân Việt ở Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Phan Thị Yến Tuyết, trong bài viết “Nghiên cứu văn hóa biển Nam Bộ, tiếp cận nhân học và văn hóa dân gian” trong Hội thảo Văn hóa, du lịch biển đảo miền Tây Nam Bộ năm 2007 đã đề cập đến các vấn đề về nhân học sinh thái biển, thiết chế văn hóa xã hội tại các làng chài, các loại hình khai thác hải sản, các tôn giáo, tín ngưỡng xã hội, văn hóa dân gian và văn hóa du lịch của văn hóa biển Việt Nam nói chung và văn hóa biển Tây Nam Bộ nói riêng... Năm 2008, tác giả đã đề cập đến văn hóa vật thể của và phi vật thể của một số địa phương ven biển Nam Bộ trong bài viết “Tìm hiểu văn hóa biển ở Nam Bộ” trong Nam Bộ, Đất và Người tập 6, của Hội Khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh.
Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh “Biển trong văn hoá của người Việt” của Nguyễn Thị Hải Lê năm 2007 đã hệ thống khá đầy đủ các thành tố văn hoá có sự góp mặt và chi phối của yếu tố biển trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt ba miền Nam, Trung, Bắc. Dương Hoàng Lộc trong Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 “Văn hóa tín ngưỡng cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre”, đã mô tả một cách có hệ thống tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân Bến Tre bao gồm các dạng thức tín ngưỡng và các hoạt động thờ cúng, góp phần làm rỏ diện mạo văn hóa của một cộng đồng ngư dân miền Tây Nam Bộ.
Năm 2008, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa đã xuất bản quyển sách “Văn hóa biển miền Trung và văn hóa Tây Nam Bộ”, tập hợp những bài tham luận phân tích vai trò của biển trong lĩnh vực kinh tế, quân sự, du lịch... Quyển sách đã đóng góp một phần không nhỏ giá trị thiết thực vào công tác nghiên cứu văn hoá biển ở Việt Nam.
Nguyễn Trần Thị Thùy Dung trong Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân văn hóa học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 “Yếu tố biển trong đời sống văn hóa của cư dân Long Hải, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” đã trình bày một cách cụ thể, có hệ thống yếu tố biển trong đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của cư dân Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, trong đó đã làm nổi bật vai trò và ảnh hưởng của yếu tố biển các bình diện văn hoá như ăn, mặc, ở, đi lại... cũng như sinh hoạt tinh thần như tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội, nghệ thuật truyền thống...
Nguyễn Hữu Nghị cũng đề cập đến yếu tố biển trong văn hoá ứng xử của người Việt trong phạm vi miền Tây Nam Bộ Việt Nam qua Luận văn Thạc sĩ Văn hoá học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh “Văn hoá ứng xử với biển của người Việt miền Tây Nam Bộ” năm 2011.
Năm 2011, Phan Thị Yến Tuyết đã công bố Đề tài “Những vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội của cư dân vùng biển, đảo Nam Bộ”, công trình trọng điểm của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Với cách tiếp cận nghiên cứu nhân học biển, đề tài đã khảo sát các cộng đồng ngư dân của 9 tỉnh, thành ven biển Nam Bộ qua các khía cạnh kinh tế, văn hóa và xã hội. Công trình đã cung cấp một hệ thống tài liệu thông tin mới qua nghiên cứu định tính và định lượng cho thấy “cái nhìn tổng thể”, một “lát cắt đồng đại mang tính hiện trạng”. Qua đó, thấy được sự tương tác, thích nghi, sáng tạo của con người đối với biển cũng như một số vấn đề xã hội đang nẩy sinh trong việc ứng xử của ngư dân đối với môi trường biển.
Các công trình trên ít nhiều cũng đã đề cập tới văn hoá biển của người Việt. Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu về văn hoá biển đều tìm hiểu một cách tổng quát hoặc chỉ đi vào một số vấn đề cụ thể trong phạm vi hẹp hay chỉ được nghiên cứu ở một khía cạnh nào đó mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu về văn hóa ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
1. Về chủ thể: Đề tài tập trung tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển văn hóa ứng xử của với biển của ngư dân Đông Nam Bộ.
2. Về không gian: Chiều dài bờ biển Đông Nam Bộ tương đối hẹp, phạm vi các làng cá ven biển chỉ khoảng 120 km, kéo dài từ bờ biển xã Bình Châu, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đến thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. Các làng cá Đông Nam Bộ có nhiều điểm giống nhau về quá trình khai phá, hình thành và phát triển; tương đồng về văn hóa, tín ngưỡng, tập tục... đặc biệt về phương thức khai thác biển truyền thống cũng như hiện đại. Trên một vùng địa lý, hành chính, lịch sử ổn định, văn hóa ứng xử của cộng đồng ngư dân Đông Nam Bộ là một thực thể tương đối thống nhất. Vì vậy, chúng tôi chọn một số làng cá tiêu biểu sau để khảo sát, nghiên cứu: Làng cá Phước Hải nay là thị trấn Phước Hải, huyện Đất Đỏ; Làng cá Phước Tỉnh nay là xã Phước Tỉnh, huyện Long Điền; Làng cá Thắng Nhì (nay là phường 5 và 6); Làng cá Cần Thạnh nay là thị trấn Cần Thạnh, huyện Cần Giờ. Đây là những làng cá tiêu biểu của không gian văn hóa ứng xử của ngư dân vùng địa lý hành chính, lịch sử Đông Nam Bộ.
Ngoài phạm vi nghiên cứu trọng tâm là vùng duyên hải Đông Nam Bộ nói trên, chúng tôi sẽ khảo sát, nghiên cứu một số làng cá tiêu biểu, ven biển (giáp ranh liền kề) thuộc vùng Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ để so sánh, tìm ra nhũng điểm tương đồng và khác biệt.
3. Về thời gian: Nghiên cứu văn hóa ứng xử của ngư dân các làng cá ven biển vùng Đông Nam Bộ xuyên suốt từ quá trình người Việt khai hoang, lập ấp và hình thành nên các làng cá ven biển vùng Đông Nam Bộ cho đến ngày nay.
IV. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI.
1. Ý nghĩa khoa học:
Góp phần hệ thống hóa cở sở lý luận và thực tiễn về ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ nói riêng, hoàn thiện bức tranh tổng thể về nghiên cứu văn hoá Nam Bộ nói chung, đồng thời góp phần vào công tác nghiên cứu về văn hóa biển ở nước ta.
Nội dung của đề tài nghiên cứu về văn hoá ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ bổ sung thêm những nét mới trong nghiên cứu văn hoá và những đúc kết của đề tài sẽ cung cấp những minh chứng thực tế cho đặc điểm của văn hóa vùng Đông Nam Bộ.
2. Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài nghiên cứu một cách có hệ thống ứng xử với biển của ngư dân Đông Nam Bộ, qua đó thấy rõ hơn vai trò của biển trong phương thức mưu sinh của cư dân nơi đây. Biển và con người có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, ngư dân phải có trách nhiệm trong việc ứng xử đúng mực đối với tự nhiên.
Với những kết quả đạt được, đề tài sẽ làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp lâu dài để bảo tồn các giá trị văn hóa biển truyền thống vùng Đông Nam Bộ, góp phần hoạch định chính sách xã hội, từ đó nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng ngư dân trong công tác bảo vệ tài nguyên môi trường, tiến tới phát triển bền vững...
V. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Phương pháp chung: Đề tài này dựa trên cơ sở lý luận của phép duy vật biện chứng để làm nền tảng trong quá trình nghiên cứu. Đây là phương pháp nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách khách quan, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ biện chứng của chúng với các sự vật, hiện tượng khác và nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng.
2. Các phương pháp cụ thể:
a) Phương pháp xã hội học văn hóa: đây là phương pháp thường dùng trong việc nghiên cứu các hiện tượng văn hóa dưới góc độ xã hội học. Nó vạch ra vai trò và mức độ ảnh hưởng của văn hóa đối với mỗi địa phương, mỗi cộng đồng. Phương pháp này chúng tôi sử dụng dưới hai hình thức:
- Về mặt định tính: sử dụng các phương pháp như quan sát, tham dự; nghiên cứu thực tế; phương pháp phỏng vấn sâu; phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia, các nhà khoa học.
- Về mặt định lượng: sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, lập bảng câu hỏi, thu thập số liệu trên sách, báo, internet...
b) Phương pháp nghiên cứu liên ngành: tổng hợp từ các nghiên cứu của các ngành khác như nhân học, xã hội học, tâm lý học, văn học, ngôn ngữ học... dưới góc nhìn văn hóa học để tiếp cận, giải quyết vấn đề.
c) Phương pháp hệ thống - cấu trúc, đây là phương pháp quan trọng, hỗ trợ cái nhìn hệ thống, giúp quan sát quá trình vận động và biến đổi trong nhận thức, ứng xử giữa ngư dân với môi trường tự nhiên và xã hội.
d) Sử dụng phương pháp lịch sử giúp bổ sung cái nhìn hệ thống từ lịch đại đến đồng đại để xem xét vấn đề một cách hệ thống, trình tự.
e) Phương pháp so sánh văn hóa giúp nhận ra sự khác biệt và tương đồng trong văn hoá mưu sinh của ngư dân làng cá ven biển vùng Đông Nam Bộ so với vùng Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ từ đó giúp tìm ra được bản sắc văn hóa, đặc điểm văn hoá của ngư dân làng cá Đông Nam Bộ trong ứng xử với biển với biển nói riêng và môi trường tự nhiên nói chung.
g) Phương pháp khảo sát điền dã văn hóa sẽ được chú trọng khai thác để bổ sung những tư liệu thực tế nhằm chứng minh và làm rõ các luận cứ đã đưa ra, giúp cho đề tài mang tính thực tiễn cao hơn.
VI. NỘI DUNG.
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn.
1.1. Cơ sở lý luận.
1.1.1 Văn hóa.
1.1.2 Văn hóa ứng xử.
1.2. Cơ sở thực tiễn.
1.2.1. Chủ thể của văn hóa ứng xử.
1.2.2. Đặc điểm địa văn hóa.
1.2.3. Đặc điểm sử văn hóa.
Chương II: Văn hóa ứng xử của ngư dân Đông Nam Bộ từ truyền thống đến hiện đại.
2.1. Văn hóa ứng xử truyền thống.
2.2. Văn hóa ứng xử hiện đại.
Tiểu kết chương II.
Chương III: Đặc trưng văn hóa ứng xử và vai trò của biển đối với ngư dân Đông Nam Bộ.
3.1. Các đặc trưng văn hóa ứng xử .
3.1.1. Tính cố kết cộng đồng
3.1.2. Tính thống nhất trong đa dạng
3.1.3. Tính kế thừa và phát triển
3.1.4. Tính dung hợp
3.2. Vai trò của biển đối với ngư dân làng cá Đông Nam Bộ.
3.2.1. Những thách thức về môi trường biển.
3.2.1.1 Sự tác động của con người.
3.2.1.2 Sự biến đổi khí hậu.
3.2.2. Vai trò của biển đối với ngư dân Đông Nam Bộ trong chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế biển.
3.3. Bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của ngư dân Đông Nam Bộ.
3.3.1. Quan điểm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa mưu sinh.
3.3.2. Định hướng và giải pháp.



