Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 6 08/03/13 15:50

Môn học: Phương pháp nghiên cứu văn hóa học
GS.VS.TSKH Trần Ngọc Thêm
Học viênNCS: Nguyễn Hùng Cường

BÀI TẬP THỰC HÀNH
Bài 1
1. Chọn cho mình một đề tài, phân tích tên đề tài.
2. Xác định (các) cặp phạm trù đối lập (các mâu thuẫn) trong đối tượng.
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu (từng) cặp đối lập đó (kiểm tra tính tương hiện, kiểm tra tính tương hóa, kiểm tra tính hướng hòa,...)
BÀI LÀM
1. Đề tài : Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
- Phân tích đề tài

Đề tài : Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
- Tên đề tài có chủ thể: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Không gian: Tây Nam bộ
- Thời gian: Toàn thời
- Đối tượng: Văn hóa tôn giáo
- Cấp độ 0 : (Lĩnh vực nghiên cứu) Văn hóa tôn giáo
- Cấp độ 1: (Chủ thể) Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Cấp độ 2 : (Không gian) Tây Nam bộ
- Cấp độ 3 : (Thời gian) toàn thời

- 2. Xác định ( các) cặp phạm trù đối lập(các mâu thuẫn) trong đối tượng
* Các cặp đối lập:
- Nam tông/ Bắc tông
- Ăn chay/ Ăn mặn
- Độc thần/Đa thần( Nam tông chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca, Bắc tông thờ nhiều Phật và các vị La Hán)
- Siêu nhiên/ hiện thực
- Phật giáo/các tín ngưỡng dân gian
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu(từng) cặp đối lập đó(kiểm tra tính tương hiện, tính tương hóa, tính hướng hòa)
* Cặp đối lập: Nam tông/ Bắc tông , Độc thần/ đa thần , Ăn chay/ ăn mặn
- Tính tương hiện:
Thực tế cho thấy mặc dù có sự đa dạng và khác nhau trong cách thờ Phật, nhưng cả hai nhánh Bắc tông và Nam tông đều thờ Phật Thích Ca, không công kích nhau về phật sự. Ngay cả những người không phải là Phật tử vẫn ăn chay, niệm Phật tại nhà.
-Tính tương hóa:
Cả hai tông phái: Bắc tông dùng chay, Nam tông dùng mặn theo phương thức “Tam tịnh nhục” (không nghe, không thấy, không trực tiếp sát sinh), nhưng cả hai đều không bài bác nhau. Mặt khác, những người không theo đạo Phật vẫn ăn chay trong các ngày rằm và ba mươi âm lịch, hạn chế sát sinh, lắm lúc cũng đi chùa cúng dường, dâng hương lễ Phật , giúp cho tâm hồn của họ tìm lại khoảng thời gian thanh tịnh.
Cả hai phái Nam tông và Bắc tông cùng tồn tại song song với nhau, ngày càng được bản địa hóa, gắn kết với các tín ngưỡng dân gian địa phương, phù hợp với tâm thức giữa lương và giáo.
- Tính hướng hòa
+ Xu hướng khất thực của Phật giáo Nam tông ngày càng ít đi, nhiều chùa ở Trà Vinh, Sóc Trăng… đã tổ chức lao động sản xuất để cải thiện đời sống chư tăng.
+ Nhiều chùa còn tuyên truyền chính sách pháp luật, hướng dẫn khuyến nông cho các phật tử ( kể cả những người không theo đạo), chuyển giao các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tuyên truyền vệ sinh, phòng bệnh… khiến cho Phật giáo Nam tông ngày càng tỏ rõ xu hướng nhập thế.
* Cặp phạm trù: Phật giáo/ tín ngưỡng dân gian
- Tính hướng hòa:
+ Ở đây có thể thấy một số chùa phái Bắc tông và chùa Phật giáo Nam tông của người Khmer Tây Nam bộ, trong cách thờ phụng vẫn bài trí theo kiểu “tiền Phật, hậu thần”, gắn bó với tín ngưỡng dân gian bản địa. Sau chánh điện ở một số chùa Khmer Nam tông vẫn có thờ Niek Tà. Điều này ảnh hưởng Bà la môn giáo cũng như hài hòa với tín ngưỡng dân gian.
*Cặp phạm trù : siêu nhiên/ hiện thực
-Tính tương hóa
Như một truyền thống của dân tộc, người Khmer Tây Nam bộ tìm đến với Phật giáo Nam tông như chỗ dựa tinh thần, nuôi dưỡng lòng từ bi và làm việc thiện để tích phước cho kiếp sau. Nhờ được sự giáo dục của giáo lý phật pháp, ra ngoài đời họ có tấm lòng rộng mở, tương thân, tương ái, hòa nhập với cộng đồng phum, sroc và các dân tộc cùng cộng cư.
-Tính hướng hòa
+ Rõ ràng yếu tố siêu nhiên nổi trội trong Phật giáo Nam tông, nhưng bên cạnh phổ biến phật pháp, Phật giáo Nam tông còn dạy mọi người ăn ở hiền lành.
+ Người Khmer Tây Nam bộ quan niệm đi tu là để rèn luyện đạo đức, phẩm chất, phấn đấu trở thành người hữu ích cho gia đình và xã hội, chứ không phải đi tu để thành tiên, thành phật.
Con trai đến tuổi trưởng thành đi tu để báo hiếu cho cha mẹ đó là một trong những minh chứng xác thực nhất, thể hiện tính chất nhập thế của đạo Phật.
+ Tính chất siêu nhiên và thực tại như đan hòa vào nhau thể hiện qua các lễ tục vòng đời, lễ tục sinh hoạt, lễ tục tôn giáo đều có liên quan gắn kết giữa Phật giáo Nam tông và tín ngưỡng dân gian trong cuộc sống đời thường (Người dân và phật tử đến chùa cầu cúng, các chư tăng xuống đến nhà dân để sinh hoạt)
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: Baitap2 Vesodo

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 2 11/03/13 9:07

Bài tập 2:
Phân tích đề tài và vẽ sơ đồ

Đề tài : Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
- Tên đề tài có chủ thể: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Không gian: Tây Nam bộ
- Thời gian: Toàn thời
- Đối tượng: Văn hóa tôn giáo
- Cấp độ 0 : (Lĩnh vực nghiên cứu) Văn hóa tôn giáo
- Cấp độ 1: (Chủ thể) Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Cấp độ 2 : (Không gian) Tây Nam bộ
- Cấp độ 3 : (Thời gian) Toàn thời

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: Bai tap 3 va 4

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 2 11/03/13 19:36

Bài tập 3 :
Định vị đối tượng và lập đề cương chi tiết

Định vị đối tượng: Ngôi chùa Khmer
Không gian: Tây Nam bộ
Thời gian: Toàn thời
BẢNG ĐỊNH VỊ CKT

Hình ảnh


Lập đề cương chi tiết:
ĐỀ CƯƠNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Tên đề tài: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Tây Nam bộ là vùng đất mới được khai phá cách nay hơn 300 năm. Đây là vùng đất có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời. Theo các nhà khảo cổ học và dân tộc học, vùng này và Đông Nam bộ cách đây khoảng 2000, 3000 năm đã có nền văn hóa Óc Eo hoàng kim từ thế kỷ I đến thế kỷ VII, cùng thời với nền văn hóa Sa Huỳnh (Trung bộ) và Đông Sơn (Bắc bộ).
Hiện nay, ở Tây Nam bộ đang có nhiều dân tộc sinh sống như Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, trong đó người Khmer có khoảng 1,5 triệu dân. Người Khmer sống rải rác khắp các tỉnh Tây Nam bộ và tập trung đông nhất ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang.
Đồng bào Khmer vùng Tây Nam bộ sinh sống lâu đời, có tiếng nói, chữ viết và mối quan hệ đồng tộc với người Khmer Campuchia. Họ thường định cư ở những giồng đất xây dựng cộng đồng thành phum, sróc xung quanh những ngôi chùa Phật giáo Nam tông, còn gọi là Phật giáo Tiểu thừa hay Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), Phật giáo Nam truyền.
Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ là một bộ phận cùng với Phật giáo Bắc tông (còn gọi là Đại thừa hay Bắc truyền) và Nam tông của người Việt đều cùng tồn tại và phát triển theo pháp môn nằm trong hệ thống ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam và quốc tế, có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng và văn hóa của tộc người Khmer vùng Tây Nam bộ.
Qua hàng thế kỷ tồn tại và phát triển, Phật giáo Nam tông Khmer, mà tiêu biểu qua hình ảnh ngôi chùa, nó như là trung tâm cả cộng đồng và là niềm tự hào của người Khmer. Nó đã có tác động không nhỏ đến tâm thức dân gian trong phum, sróc, trong đời sống văn hóa thường nhật của đại bộ phận cư dân Khmer vùng Tây Nam bộ.
Ngôi chùa gắn liền với hoạt động của phum, sróc. Việc con trai Khmer gần đến tuổi trưởng thành phải vào chùa tu trong một thời gian nhất định để học chữ, tiếng nói, học giáo lý và được hướng nghiệp, dạy nghề hầu như đã trở thành “định chế” bất thành văn, có tính truyền thống. Vì tin có kiếp sau, có luân hồi nên họ sống hiền lành, không bon chen. Khi dành dụm được tiền của, cư dân Khmer thường nâng cấp, mở rộng chùa, cúng dường để tích phước cho kiếp sau. Đồng bào Khmer đến với chùa, với chư tăng, học thuộc lòng kinh kệ để tìm nguồn an ủi trong hiện tại, để giải thoát và mong góp một ít công đức cho tương lai. Do vậy, họ xem chùa là chỗ dựa tinh thần, luôn nhắc nhở nhau vào các ngày sóc, vọng để thọ pháp, đồng thời tự nguyện đóng góp xây dựng ngôi chùa ngày càng bền vững.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình chuyên sâu nào nghiên cứu về ngôi chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ ở góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn "Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ" làm đề tài nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình.
Luận án này bước đầu vận dụng cơ sở lý luận kết hợp với việc khảo sát thực tế qua sinh hoạt tín ngưỡng và đời sống văn hóa của người Khmer để tìm ra những luận điểm cơ bản, đề xuất các giải pháp tiến tới bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của người Khmer Tây Nam bộ.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Việc nghiên cứu về Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ cũng như đời sống của cư dân Khmer vùng đất này chỉ mới được chú trọng từ thập niên 80 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, từ trước năm 1975 đến nay, ở nhiều phương diện khác nhau, nhiều sách, báo, tạp chí (bản in) xuất bản, các luận văn đốc sự hành chánh được lưu trữ ở Học viện Quốc gia Hành chính Sài Gòn và trên các Website đăng tải những nội dung có liên quan đến đề tài này khá phong phú. Có thể chia các tài liệu này thành 3 nhóm vấn đề.
Nhóm thứ nhất, về lịch sử.
Trong quyển Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam [42], tác giả Mai Thanh Hải đã phân chia Phật giáo Nam tông Khmer theo hai chi phái, trình bày một số tín ngưỡng dân gian của người Khmer bản địa, khái quát về giáo lý và hoạt động tôn giáo của một số địa phương Tây Nam bộ. Theo quan điểm riêng mình, tác giả cho rằng, Phật giáo Nam tông của người Khmer Nam bộ là sự dung hợp của các đạo Phật Theravada, Ấn giáo và tín ngưỡng Neak Tà-Arăk, trong đó ngôi chùa chiếm vị trí chủ đạo [42;125].
Trong bài viết nhan đề What is Theravada?[73], Maung Kyauk Seinn giải thích gốc từ nguyên “Theravada”, giới thiệu sơ lược về 3 lần đại hội Phật giáo thế giới và phác thảo tiến trình phát triển của Phật giáo Nam truyền ở khu vực các nước Đông Nam Á. Đặc biệt là bài viết của Binh Anson đề cập về Phật giáo nguyên thủy Theravada ở Việt Nam, giới thiệu khái lược lịch sử Phật giáo Theravada ở Việt Nam, bắt đầu từ sự kiện một bác sĩ thú y người Việt tên Lê Văn Giảng. Năm 1938, với pháp danh là Hộ Tông, nhà sư Lê Văn Giảng đã du nhập hệ phái Nam tông từ Campuchia vào Việt Nam, đem lại cho Phật giáo Nam bộ một nét mới mẻ. [ 49; 7 ]
Nhóm thứ hai, về văn hóa dân tộc Khmer.
Chân Lạp phong thổ ký [38] của Zhou Da Kuan (Chu Đạt Quan), thành viên của sứ bộ nhà Nguyên (1266-1346). Năm thứ 2 niên hiệu Nguyên Trinh triều vua Thành Tông (1295-1308) nhà Nguyên, Chu Đạt Quan theo một phái đoàn sứ giả đã đi ngược sông Cửu Long để đến Chân Lạp(Tchenla), nay là Campuchia . Ông lưu lại hơn 1 năm, ghi lại những điều mắt thấy tai nghe về cuộc du hành xuyên qua Nam bộ ngày nay và mọi sinh hoạt của người bản xứ; quyển sách được xếp vào loại “Sử bộ, Địa lý loại, ngoại kỷ chi thuộc”. Công trình này đã khắc họa một diện mạo khá toàn diện cuộc sống của vùng quốc đô nước Chân Lạp dưới vương triều Indravarman III (1295-1307), đồng thời miêu tả sinh động về phong tục, tập quán, lối sống của người Chân Lạp thời bấy giờ.
Năm 1968, tác giả Lê Hương cho ra đời quyển Người Việt gốc Miên [24] được công luận quan tâm đặc biệt. Do có thời gian khá dài sống và làm việc trên “Đất Chùa Tháp” nên tác giả nắm bắt khá nhiều khía cạnh văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người Khmer. Có thể nói, tập sách có nhiều tư liệu làm cơ sở nền tảng để đối chiếu, so sánh giữa các phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lối sống của người Khmer trên đất Campuchia và người Khmer Nam bộ, giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu sâu hơn về văn hóa xã hội của người Khmer Nam bộ. Tuy nhiên, “tập đại thành” này vẫn mang tính chất tư liệu địa chí tổng hợp và chứa đựng yếu tố văn hóa dân gian của cư dân Khmer địa phương.
Tác giả Phan An trong quyển sách Dân tộc Khmer Nam bộ [3], tập trung giới thiệu về điều kiện địa lý, dân cư, đời sống kinh tế-xã hội, đặc biệt là những sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc dân tộc của dân tộc Khmer anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Ông đã góp phần tìm hiểu văn hóa tộc người Khmer thông qua Phật giáo Khmer và cơ chế quản lý xã hội truyền thống của nông thôn người Khmer Nam bộ gắn với vấn đề xóa đói giảm nghèo(khảo sát tại tỉnh Trà Vinh), đồng thời dự báo sự phát triển đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đồng bào Khmer Nam bộ trong tương lai.
Tháng 10/1993, Cơ quan thường trú Bộ Văn hóa - Thông tin tại Tp. Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học về công tác Văn hóa thông tin vùng dân tộc Khmer Nam bộ. Kỷ yếu Hội thảo này tập hợp các bài tham luận của các nhà nghiên cứu, các nhà lý luận, các giới chức, đại biểu các giáo phẩm, chư tăng nghiên cứu về công tác văn hóa thông tin vùng dân tộc Khmer hiện nay nhằm phát huy truyền thống văn hóa dân tộc của đồng bào Khmer Nam bộ. Các tham luận đều đánh giá cao vai trò của chùa Khmer, góp phần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước; đồng thời làm phong phú, đa dạng các mặt đời sống văn hóa vật chất và tinh thần cho cư dân Khmer bản địa.
Bên cạnh việc trình bày các hoạt động dân tộc và tôn giáo của người Hoa, công trình Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng [45] do Trần Hồng Liên Chủ biên, đã trình bày vấn đề giáo dục phổ thông của người Khmer ở Sóc Trăng, phát triển cộng đồng Khmer thông qua một số tổ chức đoàn thể xã hội, đồng thời khẳng định những đổi thay trong sinh hoạt và tập tục, nghi lễ, văn hóa dân gian của người Khmer địa phương theo cách nhìn dân tộc học.
Ở góc nhìn xã hội học, tác giả Trường Lưu chủ biên quyển Văn hóa người Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long [33]. Ngoài chương 5 nói về văn học người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, các tác giả đã dành trọn chương 2 bàn về tín ngưỡng - tôn giáo của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long [ 33; 39-105], đề cập tóm tắt vai trò của ngôi chùa trong đời sống của người Khmer.
Năm 2002, tác giả Nguyễn Mạnh Cường cho ra mắt cuốn "Vài nét về người Khmer Nam bộ” [13] . Quyển sách có 7 chương, 451 trang, bước đầu giới thiệu một số nét về đời sống văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng của người Khmer trên vùng đất mới Tây Nam bộ qua quá trình điền dã chủ yếu ở tỉnh Kiên Giang. Ở chương 6, với tiêu mục là “Phật giáo Khmer qua các kỳ đại hội Phật giáo Việt Nam”, tác giả ghi chép biên bản các lần đại hội Phật giáo và một số bài tham luận mang tính chính trị, tôn giáo nhiều hơn học thuật.
Năm 2005, Nhà xuất bản Tp. Hồ Chí Minh và Tạp chí Xưa và nay phối hợp xuất bản quyển “Nam bộ xưa và nay” [42] . Công trình này tập hợp nhiều bài viết về địa chí, địa danh, tư liệu, nhân vật lịch sử, văn hóa xưa và nay từ năm 1995 đến lúc phát hành. Trong đó có các bài đáng chú ý như “Văn hóa dân tộc trong lễ hội dân gian ở Nam bộ” của Huỳnh Quốc Thắng, “Người Khmer ở Nam bộ” của Lưu Văn Nam. Những bài viết này giới thiệu khái quát về người Khmer và đời sống văn hóa đương đại nhưng hầu hết đều mang chất liệu và phong cách phản ánh của thể loại báo chí.
Ros KuLap có bài Văn hóa văn nghệ truyền thống của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu long, đăng trong quyển Mấy đặc điểm văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (1984) do Viện Văn hóa xuất bản. Tác giả nêu khái quát đặc điểm và mối quan hệ của ngôi chùa với sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của người Khmer, cũng như sinh hoạt văn hóa văn nghệ.
Những năm 80 của thế kỷ XX, quyển Người Khmer Cửu Long [52] được xuất bản. Với độ dày 269 trang, cấu trúc thành ba chương, công trình đã khái quát về người Khmer Cửu Long từ khi thành lập tỉnh, năm 1976 (Trà Vinh và Vĩnh Long hiện nay), đề cập một số tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội, văn học nghệ thuật [52;109-208] và truyền thống đoàn kết của người Việt với người Khmer trong chiến đấu-xây dựng [52; 209-269].
Trong công trình Người Khmer Kiên Giang [37] , Đoàn Thanh Nô đã đi sâu nghiên cứu văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của người Khmer ở Kiên Giang. Đây là quyển sách góp phần tìm hiểu về văn hóa dân gian người Khmer ở Kiên Giang , góp phần làm phong phú thêm bản sắc văn hóa dân tộc.
Văn hóa phum sóc của người Khmer Tây Nam bộ và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở [4] của Trần Văn Ánh là quyển sách viết lại từ luận án tiến sĩ của tác giả. Phần 2 Văn hóa phi vật thể nằm trong chương 2 Diện mạo văn hóa phum sóc của người Khmer Nam bộ, tác giả chỉ dành một trang tương đối khiêm tốn nói về chùa Khmer- không có gì mới mẻ so với các tư liệu đang có- còn phần lớn nói về tín ngưỡng dân gian và một số thể tài văn học nghệ thuật của người Khmer Nam bộ.
Gần đây, những ai quan tâm đến lĩnh vực văn hóa Nam bộ có thể tìm đọc quyển Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - Thực trạng và những vấn đề đặt ra [6] do GS.TS. Trần Văn Bính chủ biên. Quyển sách đề cập đến nhiều vấn đề về văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo của các dân tộc Khmer, Hoa, Chăm ở Việt Nam hiện nay và xu hướng phát triển văn hóa của các dân tộc này và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Trong công trình này, tập thể tác giả có phần giới thiệu khái lược về tín ngưỡng Phật giáo Tiểu thừa của người Khmer Tây Nam bộ.
Nhóm thứ ba, về tín ngưỡng tôn giáo
Năm 1994, Nguyễn Quảng Tuân, Huỳnh Lứa, Trần Hồng Liên biên soạn Những ngôi chùa ở Nam bộ [25]. Đây là một trong sáu tập sách viết về Những ngôi chùa ở Việt Nam. Mỗi tỉnh, thành được chọn từ 4 đến 6 ngôi chùa tiêu biểu của địa phương. Các tác giả đã cố công khảo sát, điền dã, giới thiệu một số ngôi chùa tiêu biểu về các mặt văn hóa lịch sử hoặc kiến trúc nghệ thuật trong khu vực, bao gồm ba tông phái Phật giáo Đại thừa, Khất sĩ và Phật giáo Tiểu thừa, giúp cho các nhà nghiên cứu làm tiền đề để tiếp tục khai thác sâu hơn trong tương lai.
Liên quan đến đề tài, đáng chú ý là công trình quyển “Chùa Khơmer Nam bộ với văn hóa đương đại” [34] của Hà Lý. Tập sách tiếp cận chùa Khmer dựa trên nền tảng Chỉ thị 68 ngày 18 tháng 4 năm 1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết lần thứ 7 ( Khóa IX) Của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam [34;15]. Dưới góc nhìn dân tộc học, tác giả đề xuất phương pháp công tác thích hợp nhằm phát huy tối đa thiết chế văn hóa truyền thống chùa Khơmer đối với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vùng dân tộc bằng cái nhìn đương đại. Có thể xem chuyên luận này như điểm khởi đầu cho việc thực hiện chính sách dân tộc thông qua hoạt động văn hóa cơ sở mang tính chất nhà nước.
Năm 2008, Nguyễn Mạnh Cường cho ra mắt quyển Phật giáo Khmer Nam bộ (Những vấn đề nhìn lại)[15]. Cũng như trước đó được đề cập trong quyển Vài nét về người Khmer Nam bộ [13], tác giả đã khái quát mấy nét về chùa Khmer Nam bộ, đại lễ và nghi thức tụng niệm của Phật giáo Khmer, đi sâu mô tả, liệt kê hệ thống tổ chức của Phật giáo Khmer Nam bộ, nội dung tổ chức các đại lễ và nghi thức tụng niệm đồng thời đề xuất một số giải pháp cho sự phát triển bền vững của Phật giáo Khmer Nam bộ.
Là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian người Khmer ở Sóc Trăng, tác giả Trần Văn Bổn có nhiều điều kiện thâm nhập thực tế, phản ánh các sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân Khmer địa phương được xuất bản trong công trình Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long [ 9]. Tác giả đã khảo sát các lễ tục vòng đời, lễ tục sinh hoạt, lễ tục tôn giáo có liên quan đến Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ.
Như vậy, từ năm 1975 trở về trước, ngoại trừ quyển Người Việt gốc Miên [24] của Lê Hương, ở Việt Nam hầu như rất ít người quan tâm nghiên cứu về Phật giáo Nam tông cũng như về ngôi chùa trong đời sống văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ. Từ năm 1975 đến nay, rải rác có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này nhưng không tổ chức thành những đề tài khoa học chuyên sâu. Riêng các bài báo đăng rải rác trên các tạp chí tập trung nhiều vào các lĩnh vực như: văn hóa ẩm thực, nhà ở, trang phục, kiến trúc, điểm đến du lịch. Một số công trình nghiên cứu tổng hợp khác, chỉ khảo sát theo cái nhìn tôn giáo học, dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học.
Có thể nói, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào tập trung phân tích mối quan hệ giữa Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ với đời sống văn hóa của người Khmer theo cách nhìn văn hóa học. Trên cơ sở kế thừa những kết quả mà các tác giả đi trước đạt được, nhất là các tư liệu đã qua giám định, chúng tôi tiếp tục thực hiện các phương pháp đã nêu trong phần nội dung chính của đề cương để cho công trình tương đối đầy đủ hơn, có tính hệ thống và mang tính khoa học hơn.
Theo Vụ Địa phương 3, Ủy ban Dân tộc, hiện nay vùng Tây Nam bộ có 447 ngôi chùa Phật giáo Nam tông Khmer, chiếm hơn 90% tổng số chùa Khmer ở Nam bộ. Ngoài ra, còn một số chùa do bị chiến tranh tàn phá, không thể sửa chữa lại được hoặc do di dân trong chiến tranh, không còn bổn đạo nên phải bỏ hoang, như chùa Xà Xía, Hà Tiên (Kiên Giang), chùa ở xã Đại Hải, Kế Sách (Sóc Trăng); chùa ở xã An Cư, Tịnh Biên (An Giang) và một số chùa ở Bạc Liêu, Cà Mau…
Khác với các dân tộc thiểu số khác, người Khmer Tây Nam bộ hầu hết có chung tôn giáo, tín ngưỡng, mà Phật giáo Nam tông trong các ngôi chùa của người Khmer Tây Nam bộ đóng vai trò then chốt. Muốn phát triển văn hóa đương đại không thể bỏ qua vấn đề này, bởi lẽ ngôi chùa chính là điểm tựa gắn bó thiết thân với từng gia đình, phum, sróc của cư dân Khmer Nam bộ. Đây là vấn đề không đơn giản và đó cũng chính là nguyên nhân thôi thúc chúng tôi tập trung vượt khó, nỗ lực nghiên cứu đề tài này.
3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là ngôi chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống của người Khmer Tây Nam bộ. Đây là lĩnh vực rộng lớn, nên trong giới hạn của luận án này, chúng tôi chỉ tập trung vào các vấn đề sau đây.
Về chủ thể: Người Khmer Tây Nam bộ qua đặc trưng đời sống văn hóa liên quan đến chùa tại địa phương.
Về không gian: Tập trung nghiên cứu một số ngôi chùa tiêu biểu ở 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang (đồng thời so sánh với các tỉnh tiêu biểu có đông đồng bào Khmer trong vùng Tây Nam bộ), từ đó khái quát hóa và thử đưa ra cái nhìn toàn cảnh về vai trò của ngôi chùa đối với đời sống văn hóa của cư dân Khmer bản địa.
Hiện nay, theo phân vùng văn hóa của tộc người Khmer Tây Nam bộ, người ta chia làm 3 vùng cụ thể:
Vùng 1 (Từ khu vực nội địa ven sông Hậu) gồm Tp. Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. Đây cũng là vùng cư trú ven biển của người Khmer, nổi bật lên yếu tố hỗn dung văn hóa giữa ba tộc người Việt - Khmer - Hoa.
Vùng 2 (Vùng cư trú cổ xưa nhất) gồm hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long. Nơi đây còn lưu lại những ngôi chùa được hình thành cách nay hơn 6 thế kỷ và còn bảo lưu những yếu tố văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer như chùa Som-rôn Ec, ao Bà Om…
Vùng 3 (Khu vực tiếp giáp biên giới Campuchia) gồm 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang. Vùng này mang tính chất trung gian giữa người Khmer Tây Nam bộ và người Khmer Campuchia, một mặt bảo lưu đầy đủ yếu tố văn hóa bản địa đồng bằng, đồng thời còn tiếp thu những yếu tố từ phía Campuchia truyền vào.
Sở dĩ chúng tôi chọn các địa bàn nói trên để khảo sát, bởi vì Sóc Trăng là tỉnh có đông người Khmer nhất Tây Nam bộ, đồng thời là tỉnh đa dân tộc có sự hỗn dung văn hóa giữa người Việt, Hoa và Khmer, có thể tiêu biểu cho vùng 2. Trà Vinh là tỉnh cũng có tỷ lệ dân số Khmer cao so với trong khu vực; mặt khác, Trà Vinh có đến 141 chùa Khmer, hội tụ những đặc điểm phù hợp với vùng 1. Còn An Giang, với nhiều đặc trưng của vùng 3, là tỉnh vùng biên giới giáp Campuchia nên ít nhiều có sự giao thoa văn hóa về tôn giáo, tín ngưỡng nhất định.
Về thời gian: Lấy mốc từ sau ngày 30 - 4 - 1975 đến thời điểm nghiên cứu.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
4.1. Quan điểm nghiên cứu
Đề tài này được nghiên cứu dựa trên quan điểm lịch sử - cụ thể và hướng tiếp cận liên ngành từ góc nhìn văn hóa học. Các phương pháp nghiên cứu được chọn bao gồm:
- Phương pháp định lượng: Đây là phương pháp cơ bản nhằm thông qua số liệu khảo sát điều tra thực địa để góp phần nhận định và cái nhìn khái quát hóa tương đối toàn diện về ngôi chùa và đời sống văn hóa của cư dân Khmer trong khu vực.
- Phương pháp định tính: Thông qua quan sát, miêu tả và lời kể của đối tượng sư sãi và người dân địa phương để làm sáng tỏ thêm nội dung đề tài.
- Phương pháp điền dã: Nhằm tiếp cận các đối tượng nghiên cứu là các chư tăng, Phật tử ở các khu vực thành thị và nông thôn trong bối cảnh văn hóa Việt Nam đương đại ở một số tỉnh tiêu biểu vùng Tây Nam bộ: Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang, An Giang…
- Phương pháp thống kê, phân loại: Giúp người nghiên cứu có cơ sở thực tế để kiểm chứng lại cơ sở lý luận.
- Phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp: Đây là những phương pháp không thể thiếu nhằm qua nghiên cứu, khảo sát, phân tích, rút ra kết luận bước đầu trên cơ sở thâm nhập thực tế trong từng ngôi chùa tiêu biểu ở các phum, sróc.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Vận dụng phương pháp này nhằm bổ sung, liên kết trong quá trình đầu tư nghiên cứu, khai thác các tư liệu có liên quan đến đề tài.
4.2. Nguồn tư liệu
Quá trình nghiên cứu đề tài chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu:
- Tài liệu về lý luận văn hóa (chủ yếu của các tác giả trong nước);
- Tài liệu chuyên ngành gồm sách, báo, tạp chí, các bài tiểu luận, bài nghiên cứu,… đã xuất bản, nghiệm thu và trong các hội thảo khoa học;
- Tài liệu điền dã: Thu thập được từ việc khảo sát thực tế ở các địa bàn cụ thể vùng Tây Nam bộ (như phần 3 đã nêu trên).
5. DỰ KIẾN NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI VỀ MẶT KHOA HỌC
5.1. Đóng góp về mặt lý luận
Công trình nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu về ngôi chùa Phật giáo Nam tông trong đời sống văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ (trường hợp 3 tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và An Giang) với hy vọng bước đầu làm sáng tỏ thêm những nội dung hoạt động của tín ngưỡng Phật giáo Nam tông, đồng thời qua đó so sánh mối liên hệ với tín ngưỡng dân gian tồn tại và phát triển trong đời sống văn hóa cư dân Khmer vùng Tây Nam bộ mang tính thống nhất trong dòng chảy văn hóa của Phật giáo Việt Nam nhằm góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Đề tài có thể xem là công trình đầu tiên, tương đối toàn diện, có hệ thống, góp phần nhìn nhận đầy đủ, đúng đắn về các chùa Khmer Tây Nam bộ và ảnh hưởng của ngôi chùa đối với người Khmer bản địa.
Ngoài ra, đề tài còn khẳng định về những đóng góp của Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ trong quá trình xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, thống nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Đề tài góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu về tôn giáo, dân tộc, đồng thời góp phần tìm hiểu đặc trưng và bản sắc văn hóa của người Khmer Nam bộ.
Những nội dung của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập các chuyên đề về văn hóa học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp thêm cơ sở khoa học trong việc hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo - dân tộc của vùng đất Nma bộ, nhằm tăng cường đại đoàn kết dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; bên cạnh đó góp phần bổ sung nội dung Chương trình hành động của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các tỉnh, thành ở Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình chỉ đạo, tổ chức xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong tình hình, nhiệm vụ mới hiện nay và sắp tới.
6. NHỮNG NỘI DUNG DỰ ĐỊNH TRIỂN KHAI NGHIÊN CỨU
Những nội dung dự định triển khai nghiên cứu trong đề tài này sẽ được bố cục trong 3 chương. Dự kiến các chương mục của luận án như sau:
PHẦN MỞ ĐẦU: Gồm nội dung các mục đã nêu ở trên.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm văn hóa
1.1.2. Đời sống văn hóa
1.1.3. Ngôi chùa
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1. Tìm hiểu quá trình thực hiện các chủ trương, chính sách có liên quan đến các ngôi chùa Khmer.
1.2.2. Sự hiện diện của ngôi chùa trong cộng đồng người KhmerTây Nam bộ.
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔI CHÙA KHMER NAM BỘ
2.1. Đặc điểm về kiến trúc
2.2. Đặc điểm về trang trí
2.3. Đặc điểm về tín ngưỡng tôn giáo Theravada
2.4. Lễ hội dân gian trong mối quan hệ với ngôi chùa
Chương 3: VAI TRÒ CỦA NGÔI CHÙA TRONG ĐỜI SỐNG
3.1. Ngôi chùa là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo
3.2. Góp phần điều hòa các mối quan hệ xã hội
3.3. Tạo trạng thái cân bằng tâm lý con người
3.4. Ngôi chùa là trường học
3.5. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa của phum, sróc và cộng đồng người Khmer
3.6. Ngôi chùa góp phần bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
3.7. Ngôi chùa với khách thập phương
3.8. Ngôi chùa đối với hoạt động từ thiện xã hội
3.9. Những biến đổi của ngôi chùa Khmer hiện nay
KẾT LUẬN
- Về vai trò của ngôi chùa đối với đời sống văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ.
- Những giải pháp bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Hình ảnh

DOCUMENT MAP

BÀI TẬP 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO
+ Tài liệu đa ngành: Ngành Địa lý, Ngành Văn hóa học, Tôn giáo, Dân tộc…
+ Tài liệu đa ngôn ngữ:Anh-Việt
+ Đa công cụ: Sách tham khảo, Internet, …
+ Đa chủng loại: Kỷ yếu hội thảo, tạp chí, luận văn …
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
* Tiếng Việt
+ Sách chuyên khảo
1. Phan An - Nguyễn Xuân Nghĩa 1992: Dân tộc Khơme (Các dân tộc ít người ở Việt Nam- các tỉnh phía Nam): NXB Khoa học xã hội
2. Phan An1992: Phum sóc Khơme trong cơ chế quản lý xã hội vùng dân tộc Khơme Nam bộ (Những vấn đề xã hội học ở miền Nam), Viện Khoa học xã hội tại Tp. Hồ Chí Minh: NXB Khoa học xã hội
3. Phan An 2010: Dân tộc Khmer Nam bộ: NXB Chính trị quốc gia
4. Trần Văn Ánh 2010: Văn hóa phum sóc của người Khmer Tây Nam bộ và vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở:
5. Võ Thanh Bàng (chủ biên) 2008: Tín ngưỡng dân gian ở thành phố Hồ Chí Minh: NXB Đại học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh
6. Trần Văn Bính 2004: Văn hóa các dân tộc Tây Nam bộ - Thực trạng và những vấn đề đặt ra :NXB Chính trị quốc gia.
7. Nguyễn Công Bình - Lê Công Diệm 1990: Văn hóa và cư dân ĐBSCL-H: NXB Khoa học xã hội
8. Thích Đồng Bổn 2007: Phong tục dân gian Nam bộ và Phật giáo: NXB Văn hóa Sài Gòn
9. Trần Văn Bổn 1999: Một số lễ tục dân gian người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long-H.: NXB Văn hóa dân tộc
10. Nguyễn Khắc Cảnh1998: Phum sóc Khmer ở ĐBSCL: NXB Giáo dục
11. HT. Minh Châu dịch 1999: Đại thừa và sự liên hệ với Tiểu thừa: NXB Tp. Hồ Chí Minh
12. Bùi Thế Cường (chủ biên) 2009: Khoa học xã hội Nam bộ, nhìn về lịch sử nhìn vào hiện tại, nhìn ra khu vực : NXB Từ điển bách khoa
13. Nguyễn Mạnh Cường 2002: Vài nét về người Khmer Nam bộ-H.: NXB Khoa học xã hội
14. Nguyễn Mạnh Cường- Nguyễn Minh Ngọc 2005: Tôn giáo tín ngưỡng của các cư dân vùng ĐBSCL: NXB Phương Đông,
15. Nguyễn Mạnh Cường 2008: Phật giáo Khmer Nam bộ: NXB Tôn giáo
16. Lê Xuân Diệm 1982: Vài nét về con đường phát triển kinh tế văn hóa trong buổi đầu lịch sử của vùng ĐBSCL-H. : NXB Khoa học xã hội
17. Nguyễn Đăng Duy 1996: Văn hóa tâm linh Nam bộ :NXB Hà Nội
18. Trịnh Hoài Đức 2005: Gia Định thành thông chí: Lý Việt Dũng (dịch và chú giải): NXB Tổng hợp Đồng Nai
19. Mạc Đường-Phan An1994: Vấn đề dân cư và tộc người ở ĐBSCL-H.:NXB Khoa học xã hội
20. Mạc Đường 1982: Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL( Một số vấn đề kinh tế xã hội về ĐBSCL)-H.: NXB Khoa học xã hội
21. Mai Thanh Hải 2001: Các tôn giáo trên thế giới và Việt Nam: NXB Văn hóa-Thông tin
22. Đỗ Minh Hợp và nhóm tác giả 2005: Tôn giáo lý luận xưa và nay: NXB tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh
23. Hội Khoa học lịch sử Việt Nam 2006: Lược sử vùng đất Nam bộ Việt Nam:NXB Thế giới
24. Lê Hương 1968: Người Việt gốc Miên :NXB Khai Trí, Sài Gòn
25. Huệ Khải 2008: Đất Nam kỳ tiền đề văn hóa mở đạo Cao Đài: NXB Tôn giáo
26. Võ Sĩ Khải 2002: Văn hóa đồng bằng Nam bộ-H.: NXB Khoa học xã hội
27. Trần Trọng Kim 2007(tái bản): Phật Lục : NXB Đà Nẵng
28. Nguyễn Lang 2010: Việt Nam Phật giáo sử luận: NXB Văn học
29. Đinh Văn Liên1984: Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc ở ĐBSCL (Mấy đặc điểm văn hóa ở ĐBSCL)-H. :Viện Văn hóa
30. Trần Hồng Liên 1995: Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ-Việt Nam ( từ thế kỷ XVII đến 1975) -H.: NXB Khoa học xã hội
31. Trần Hồng Liên (chủ biên) 2002: Vấn đề dân tộc và tôn giáo ở Sóc Trăng: NXB Khoa học xã hội
32. Trần Hồng Liên 2004: Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ-H.: NXB Khoa học xã hội
33. Trường Lưu ( chủ biên)1993: Văn hóa người Khmer vùng ĐBSCL-H. : NXB Văn hóa dân tộc
34. Hà Lý 2004: Chùa Khơmer Nam bộ với văn hóa đương đại: NXB Văn hóa dân tộc
35. Sơn Nam 1997: Lịch sử khẩn hoang miền Nam: NXB Trẻ Tp. Hồ Chí Minh
36. Nhóm tác giả 2008: Văn hóa lễ hội truyền thống cộng đồng các dân tộc Việt Nam: NXB Quân đội nhân dân
37. Đoàn Thanh Nô 2002: Người Khmer ở Kiên Giang: NXB Văn Hóa dân tộc
38. Chu Đạt Quan 2011: Chân Lạp Phong thổ ký- Hà Văn Tấn dịch: NXB Thế giới
39. Floyd H. Ross-Tynette Hills 2007: The Great Religions by which men live- Bản dịch của Thích Tâm Quang ( Những tôn giáo lớn trong đời sống nhân loại) :NXB Tôn giáo
40. Tỳ kheo Thích Phước Sơn 2006: Một số vấn đề về giới luật (tập 1): NXB Phương Đông
41. SÔ-RY-A 1988: Lễ hội Khmer Nam bộ: NXB Văn hóa dân tộc
42. Tạp chí Xưa và nay 2005: Nam bộ xưa và nay : NXB Tp. Hồ Chí Minh
43. Trần Ngọc Thêm 2004: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: NXB Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh
44. Ngô Đức Thịnh 2004:Văn hóa vùng & phân vùng văn hóa ở Việt Nam :NXB Trẻ
45. Ngô Đức Thịnh 2007: Về tín ngưỡng lễ hội cổ truyền: Viện Văn hóa: NXB Văn hóa-thông tin
46. Lê Ngọc Trà (tập hợp và giới thiệu) 2003: Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận: NXB Giáo dục
47. Chu Quang Trứ 2001: Sáng giá chùa xưa: NXB Mỹ thuật
48. Tạ Chí Đại Trường 2005: Thần người và đất Việt: NXB Văn hóa thông tin
49. Nguyễn Quảng Tuân-Huỳnh Lứa-Trần Hồng Liên1994: Những ngôi chùa ở Nam bộ: NXB thành phố Hồ Chí Minh
50. Nguyễn Thị Hải Yến 2007: Campuchia thánh địa của những ngôi đền: NXB Thế giới
51. Viện Dân tộc học 2007: Sổ tay về các dân tộc ở Việt Nam: NXB Văn học
52. Viện Văn hóa 1987: Người Khơ me Cửu Long : Sở VHTT Cửu Long xuất bản
+ Các bài báo:
53. Phan An : Nghiên cứu về người Khơ me ở ĐBSCL- Tạp chí Dân tộc học số 3, 1985
54. Nguyễn Khắc Cảnh: Ngôi chùa trung tâm giáo dục và sinh hoạt văn hóa xã hội của phum sóc Khmer ở ĐBSCL- Tập san Khoa học A Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh tháng 7, 1996
55. Nguyễn Khắc Cảnh: Vấn đề nguồn gốc và sự hình thành cộng đồng người Khmer ở vùng ĐBSCL ở Việt Nam- Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh tháng 7, 1996
56. Nguyễn Văn Diệu: Vai trò của ngôi chùa Phật ở các phum sóc người Khơ me vùng ĐBSCL, hội thảo “Giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Tp. Hồ Chí Minh tháng 9,1995
57. Mạc Đường: Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL trong thời cổ đại- Tạp chí Dân tộc học số 4, 1981
58. Mạc Đường: Về vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL vào những năm đầu thế kỷ XX - Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 4, 1983
59. Ngô Đức Thịnh: Người Khmer ĐBSCL là thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam- Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 3/1984
60. Ngô Đức Thịnh: Một số vấn đề về lịch sử dân tộc người Khmer ở Campuchia- Sưu tập Dân tộc học năm 1981, H.1982
61. Nguyễn Văn Tiệp: Quá trình du nhập và ảnh hưởng của Phật giáo Tiểu thừa đến sinh hoạt tôn giáo, văn hóa xã hội của người Khmer ở ĐBSCL, Thông báo khoa học, Đại học Sư phạm Vinh 1993
62. Bùi Tiến: Ghi chép về chùa Khmer Nam bộ- Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật số 3, 1992
63. Vũ Huy Quang: Một vài khía cạnh về gia đình người Khmer ở Campuchia-Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á số 3, 1994
64. Thạc Nhân: Tìm hiểu xã hội người Việt gốc Miên- Tạp chí Xã hội số 1,1965
65. Nguyễn Xuân Nghĩa: Giao hoán tín ngưỡng ở người Khmer vùng ĐBSC-, Tạp chí Dân tộc học số 3, 1979
66. Nguyễn Xuân Nghĩa: Tàn dư tín ngưỡng Arăk và Neak Tà ở người Khmer vùng ĐBSCL- Sử học số 2, NXB Đại học và THCN.H. 1981
+ Các luận văn
67. Lê Trung Nghĩa: Sự tiến hóa của đồng bào Việt gốc Miên hay là xã hội hiện đại của người Việt gốc Miên tại Trà Vinh, Luận văn đốc sự số 12, Học viện quốc gia hành chính Sài Gòn, 1967
68. Võ Thế Lưu: Người Việt gốc Miên, Luận văn đốc sự số 13, Học viện quốc gia hành chính Sài Gòn, 1968
69. Danh La: Nếp sống và vai trò người Miên trong cộng đồng quốc gia, Luận văn đốc sự hành chính khóa 17, Học viện quốc gia hành chính Sài Gòn, 1972
+ Tài liệu kỷ yếu hội thảo
70. Bộ Văn hóa Thông tin 1993: Kỷ yếu hội nghị về công tác văn hóa thông tin vùng dân tộc KhơMe Nam bộ
** Tài liệu nước ngoài
71. John Bullitt : What is Theraveda Buddhism?
Http://www.accesstoinsight.org/theraveda.html
72. Dr. V.A. Gunasekara: What is Theraveda Buddhism?
Http://www.uq.net.au/slsoc/budsoc.html
73. Maung Kyauk Sienn: What is Theraveda Buddhism?
Http://Web.ukonline.couk/buddhism
74. Binh Anson: Theravada Buddhism in Vietnam
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

bai tap 5.ppncvhh

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 3 12/03/13 10:36

Bài tập 5:

Chọn những nội dung thích hợp trong đề tài của mình để lập bảng(bắt buộc), lập mô hình và lập thuật giải(nếu có).
Lập bảng so sánh các đặc trưng cơ bản của chùa
BẢNG SO SÁNH


Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Gửi bàigửi bởi vuthihanhtrang » Thứ 3 12/03/13 21:38

Dạ, em có chút góp ý ở BT1 phần sơ đồ cấp hệ. Nếu CĐ 1 là chùa Nam Tông Việt và Nam Tông Khmer thì CĐ 0 nên là chùa Nam Tông hoặc Văn hóa vật thể, chứ Văn hóa thì em nghĩ là hơi rộng. Với lại phần nào là phần nghiên cứu chính, anh nên để khác màu để dễ phân biệt với những đối tượng khác trong cùng cấp hệ, cả sơ đồ trắng hết thì hơi khó nhìn.

Phần bố cục dự kiến của đề tài, ở chỗ chia chương, em thấy có vài điểm sau, không biết có đúng không, anh xem lại nhé:
2.3. Đặc điểm về tín ngưỡng tôn giáo Theravada => Theravada là một tông phái thuộc Phật giáo, tức là tôn giáo luôn chứ không phải tín ngưỡng.
2.4. Lễ hội dân gian trong mối quan hệ với ngôi chùa => nếu chương 2 làm về đặc điểm của chùa Khmer thì phần này có thể không liên quan mật thiết lắm đến tiêu đề của chương.

Ở chương 3, tiểu mục 3.9 những biến đổi của ngôi chùa Khmer hiện nay có vẻ hơi lạc lõng so với tiêu đề chương 3 làm về vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa người Khmer Tây Nam Bộ. Anh có thể đổi lại tên tiêu đề tiểu mục này để phù hợp hơn hoặc bỏ luôn cho gọn, hihi.

Với lại hôm bữa trên lớp thầy Thêm có gợi ý về cách tạo chương 2, chương 3 và các chương 4 (nếu có) nên có sự liên quan đến nhau, chẳng hạn 1 cặp là đời sống văn hóa vật chất - đời sống văn hóa tinh thần, hoặc 1 nhóm 3 cái là cấu trúc văn hóa tổ chức - nhận thức - ứng xử v.v... Anh có thể cân nhắc lại tên các chương cho bài làm được thuyết phục và chặt chẽ hơn.

Em có vài ý kiến nên thắc mắc vậy thôi, mong anh không phiền lòng. Anh học NCS nên trình độ cao hơn tụi em, em chỉ dựa trên những gì đã học và nhận thức còn hạn hẹp để góp ý, nếu em có gì sai sót thì mong anh bỏ qua hoặc góp ý cho em thêm nha. Chúc đề tài của anh ngày càng hoàn thiện. ^_^
"Trăm năm tao ngộ một giờ
Tình thương vô tận bất ngờ tái sinh"
Hình đại diện của thành viên
vuthihanhtrang
 
Bài viết: 53
Ngày tham gia: Chủ nhật 11/11/12 22:35
Cảm ơn: 2 lần
Được cám ơn: 7 lần

Re: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 7 16/03/13 19:25

vuthihanhtrang đã viết:Dạ, em có chút góp ý ở BT1 phần sơ đồ cấp hệ. Nếu CĐ 1 là chùa Nam Tông Việt và Nam Tông Khmer thì CĐ 0 nên là chùa Nam Tông hoặc Văn hóa vật thể, chứ Văn hóa thì em nghĩ là hơi rộng. Với lại phần nào là phần nghiên cứu chính, anh nên để khác màu để dễ phân biệt với những đối tượng khác trong cùng cấp hệ, cả sơ đồ trắng hết thì hơi khó nhìn.

Phần bố cục dự kiến của đề tài, ở chỗ chia chương, em thấy có vài điểm sau, không biết có đúng không, anh xem lại nhé:
2.3. Đặc điểm về tín ngưỡng tôn giáo Theravada => Theravada là một tông phái thuộc Phật giáo, tức là tôn giáo luôn chứ không phải tín ngưỡng.
2.4. Lễ hội dân gian trong mối quan hệ với ngôi chùa => nếu chương 2 làm về đặc điểm của chùa Khmer thì phần này có thể không liên quan mật thiết lắm đến tiêu đề của chương.

Ở chương 3, tiểu mục 3.9 những biến đổi của ngôi chùa Khmer hiện nay có vẻ hơi lạc lõng so với tiêu đề chương 3 làm về vai trò của ngôi chùa trong đời sống văn hóa người Khmer Tây Nam Bộ. Anh có thể đổi lại tên tiêu đề tiểu mục này để phù hợp hơn hoặc bỏ luôn cho gọn, hihi.

Với lại hôm bữa trên lớp thầy Thêm có gợi ý về cách tạo chương 2, chương 3 và các chương 4 (nếu có) nên có sự liên quan đến nhau, chẳng hạn 1 cặp là đời sống văn hóa vật chất - đời sống văn hóa tinh thần, hoặc 1 nhóm 3 cái là cấu trúc văn hóa tổ chức - nhận thức - ứng xử v.v... Anh có thể cân nhắc lại tên các chương cho bài làm được thuyết phục và chặt chẽ hơn.

Em có vài ý kiến nên thắc mắc vậy thôi, mong anh không phiền lòng. Anh học NCS nên trình độ cao hơn tụi em, em chỉ dựa trên những gì đã học và nhận thức còn hạn hẹp để góp ý, nếu em có gì sai sót thì mong anh bỏ qua hoặc góp ý cho em thêm nha. Chúc đề tài của anh ngày càng hoàn thiện. ^_^


Chào em!
Anh xin cảm ơn nội dung góp ý và sẽ thận trọng xem xét.
Chào em.
Nguyễn Hùng Cường.
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: Bai tap 6 va 7

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 2 18/03/13 9:50

Bài tập 6:
Chọn khái niệm trong bài làm một định nghĩa.
Chọn khái niệm “lễ hội” để làm định nghĩa.
+Bước 1: Tìm kiếm các định nghĩa về du lịch văn hóa
+Bước 2: Phân tích định nghĩa
Hình ảnh

Hình ảnh

Hình ảnh

-Bước 3: Phân loại các định nghĩa, xác định những nét nghĩa chung
Qua hai định nghĩa, có thể xác định nét nghĩa chung: hoạt động truyền thống, nhiều sự kiện, đông người tham gia.
-Bước 4: Không cần điều chỉnh, bổ sung
-Bước 5: Xác định đặc trưng giống
Giá trị văn hóa , lịch sử
-Bước 6: Xác định đặc trưng loài
Mỗi người có đời sống kinh tế riêng, nhưng vần có truyền thống tổ chức và tham gia lễ hội nhằm mục đích cải thiện nhu cầu sinh hoạt, hướng đến những giá trị truyền thống cội nguồn.
Từ 5+6, ta có định nghĩa sơ bộ về lễ hội:
Lễ hội là một sự kiện quan trọng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống xã hội được tổ chức định kỳ, mang tính cộng đồng nhằm hướng về truyền thống, thể hiện những ước mơ chính đáng trong cuộc sống đời thường.
-Bước 7: Lập sơ đồ cấu trúc

Hình ảnh

SƠ ĐỒ CẤU TRÚC

Bài tập 7:

Chọn một cặp đối tượng, lập bảng so sánh đưa lên diễn đàn

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Re: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Gửi bàigửi bởi Thanh Nga » Thứ 3 19/03/13 12:19

Trong bảng so sánh của anh C, em nghĩ nên thêm vào phần giống nhau giữa xe đạp và xe máy. Ví dụ như: Đều là phương tiện giao thống, di chuyển. Rồi có hình dáng cấu tạo chung là có hai bánh, thường dành cho hai người ngồi...
Hình đại diện của thành viên
Thanh Nga
 
Bài viết: 41
Ngày tham gia: Thứ 2 08/10/12 7:34
Cảm ơn: 17 lần
Được cám ơn: 3 lần

Re: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ

Gửi bàigửi bởi mrcungnguyen » Thứ 3 19/03/13 16:01

em thấy chỗ so sánh phương tiện: em nghĩ xe đạp cũng có động cơ mà,có động cơ nó mới chạy được chứ!hii.

trọng tải: thường ss nặng với nhẹ,anh ghi ít or nhiều thì chưa hợp lý lắm
cungnguyen
Hình đại diện của thành viên
mrcungnguyen
 
Bài viết: 47
Ngày tham gia: Thứ 3 20/11/12 10:58
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 4 lần

Re: Bai tap 2 (sua lan 2)

Gửi bàigửi bởi hungcuong » Thứ 6 22/03/13 8:04

Bài tập 2:
Phân tích đề tài và vẽ sơ đồ

Đề tài : Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer Tây Nam bộ
- Tên đề tài có chủ thể: Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Không gian: Tây Nam bộ
- Thời gian: Toàn thời
- Đối tượng: Kiến trúc tôn giáo
- Cấp độ 0 : (Lĩnh vực nghiên cứu) Kiến trúc tôn giáo
- Cấp độ 1: (Chủ thể) Ngôi chùa trong văn hóa của người Khmer
- Cấp độ 2 : (Không gian) Tây Nam bộ
- Cấp độ 3 : (Thời gian) toàn thời
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
hungcuong
 
Bài viết: 38
Ngày tham gia: Thứ 2 21/01/13 10:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 2 lần

Trang kế tiếp

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron