Bài tập thực hành 8: Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
1. Lựa chọn loại hình:
Ứng dụng loại hình âm – dương trong việc xem xét các hoạt động trong nghi thức lễ hội giữa tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ trong so sánh với cái nôi xuất phát của nó – Bắc Bộ.
2. Định vị KCT cho đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp loại hình:
Đối tượng nghiên cứu: (Hoạt động trong nghi thức lễ hội) Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ
C: Người Việt ở Nam Bộ
K: vùng Nam Bộ
T: Toàn thời
3. Phân loại các phần tử của đối tượng nghiên cứu thành các nhóm:

4. Lập ánh xạ giữa hệ thống các nhóm của đối tượng nghiên cứu với hệ thống loại hình đã chọn:

5. Vận dụng chùm đặc trưng của loại hình để mô tả nhóm tương ứng của đối tượng nghiên cứu. Chi tiết hóa, bổ sung, điều chỉnh giải thích các hiện tượng đặc thù.
Có thể thấy, những phần của nghi thức lễ hội như tế lễ cổ truyền và dâng hương là những hoạt động còn giữ lại được trên con đường lưu truyền tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần từ Bắc vào Nam thông qua hoạt động di dân.
Trên cơ sở khảo sát chủ yếu ở TP. HCM, các phần nghi lễ như khai ấn, phát ấn, làm lễ cá, rước kiệu trên sông, hát văn hầu bóng, tổ chức các trò chơi sau lễ không thấy xuất hiện ở vùng Nam Bộ. (Với các tỉnh thành khác trong khu vực miền Nam như Tây Ninh, Vũng Tàu, Kiên Giang, phần nghi thức lễ hội đôi khi còn đơn giản hơn ở TP. HCM). Điều này có thể lý giải vì điều kiện thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ là thờ vọng, không phải thờ chính, tức chỉ mang tính chất tưởng niệm là chủ yếu. Hơn nữa địa hình ở đây không cho phép tổ chức các hoạt động rước kiệu trên sông hay tổ chức trò chơi (thường là đua thuyền) như ở các vùng thờ chính ở miền Bắc – khu vực quần thể đền thờ Kiếp Bạc ở Hải Dương hay đền Trần Thương ở Nam Định.
Hoạt động xin ấn đền Trần mọi năm ở Bắc Bộ đều có những tiêu cực như nạn chen lấn giẫm đạp nhau, buôn bán ấn công khai, phần hát văn hầu bóng nhân ngày “giỗ Cha” cũng không thấy xuất hiện ở hoạt động tín ngưỡng này tại miền Nam. Sở dĩ như vậy vì miền Nam so với miền Bắc có phần linh hoạt phóng khoáng hơn và dương tính hơn hẳn. Vì thế bản chất lễ hội cũng rất dương tính, linh động cho phù hợp thời thế, không bảo tồn hết tất cả các hoạt động như nghi lễ Bắc Bộ và có sự đổi mới (như hoạt động trao học bổng sau nghi lễ tưởng niệm ở đền thờ Trần Hưng Đạo số 36 Võ Thị Sáu TP. HCM). Chính tư duy bảo tồn và tính chất âm tính nơi người dân miền Bắc đã khiến họ cảm thấy không an tâm khi trong năm không xin được ấn đền Trần đem về nhà trừ tà hay hoạt động lễ hội không đầy đủ các nghi thức, dù thế nào họ cũng cố gắng để giữ gìn trọn vẹn truyền thống hết mức có thể.
Một điều rất đặc biệt của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ là sự đề cao tính giáo dục. Tổ chức lễ là để tưởng niệm công ơn và cũng là để giáo dục lớp trẻ không quên truyền thống cha ông, hoạt động trao học bổng bản chất chính là khuyến học, tức là coi trọng giáo dục. Không năm nào lễ giỗ Đức Thánh Trần không có báo đài đưa tin. Hoạt động có thể đơn giản, có thể hoành tráng tùy theo thời điểm (ví dụ những năm kỷ niệm đặc biệt) nhưng bao giờ cũng trang nghiêm. Không chỉ người dân thường đi viếng lễ cầu xin tài lộc may mắn (nhất là được thăng tiến trên đường công danh sự nghiệp), xin ấn về trừ tà, cầu sức khỏe cho phụ nữ và trẻ con, binh chủng Hải quân trong và ngoài nước cũng tổ chức lễ kỷ niệm vì sinh thời Trần Hưng Đạo rất giỏi về thủy chiến qua sự kiện trận chiến trên sông Bạch Đằng. Hình tượng ngài đã trở thành một biểu tượng văn hóa đa dụng của người dân Việt Nam trên khắp mọi miền lãnh thổ.
Ứng dụng loại hình âm – dương trong việc xem xét các hoạt động trong nghi thức lễ hội giữa tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ trong so sánh với cái nôi xuất phát của nó – Bắc Bộ.
2. Định vị KCT cho đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp loại hình:
Đối tượng nghiên cứu: (Hoạt động trong nghi thức lễ hội) Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ
C: Người Việt ở Nam Bộ
K: vùng Nam Bộ
T: Toàn thời
3. Phân loại các phần tử của đối tượng nghiên cứu thành các nhóm:

4. Lập ánh xạ giữa hệ thống các nhóm của đối tượng nghiên cứu với hệ thống loại hình đã chọn:

5. Vận dụng chùm đặc trưng của loại hình để mô tả nhóm tương ứng của đối tượng nghiên cứu. Chi tiết hóa, bổ sung, điều chỉnh giải thích các hiện tượng đặc thù.
Có thể thấy, những phần của nghi thức lễ hội như tế lễ cổ truyền và dâng hương là những hoạt động còn giữ lại được trên con đường lưu truyền tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần từ Bắc vào Nam thông qua hoạt động di dân.
Trên cơ sở khảo sát chủ yếu ở TP. HCM, các phần nghi lễ như khai ấn, phát ấn, làm lễ cá, rước kiệu trên sông, hát văn hầu bóng, tổ chức các trò chơi sau lễ không thấy xuất hiện ở vùng Nam Bộ. (Với các tỉnh thành khác trong khu vực miền Nam như Tây Ninh, Vũng Tàu, Kiên Giang, phần nghi thức lễ hội đôi khi còn đơn giản hơn ở TP. HCM). Điều này có thể lý giải vì điều kiện thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ là thờ vọng, không phải thờ chính, tức chỉ mang tính chất tưởng niệm là chủ yếu. Hơn nữa địa hình ở đây không cho phép tổ chức các hoạt động rước kiệu trên sông hay tổ chức trò chơi (thường là đua thuyền) như ở các vùng thờ chính ở miền Bắc – khu vực quần thể đền thờ Kiếp Bạc ở Hải Dương hay đền Trần Thương ở Nam Định.
Hoạt động xin ấn đền Trần mọi năm ở Bắc Bộ đều có những tiêu cực như nạn chen lấn giẫm đạp nhau, buôn bán ấn công khai, phần hát văn hầu bóng nhân ngày “giỗ Cha” cũng không thấy xuất hiện ở hoạt động tín ngưỡng này tại miền Nam. Sở dĩ như vậy vì miền Nam so với miền Bắc có phần linh hoạt phóng khoáng hơn và dương tính hơn hẳn. Vì thế bản chất lễ hội cũng rất dương tính, linh động cho phù hợp thời thế, không bảo tồn hết tất cả các hoạt động như nghi lễ Bắc Bộ và có sự đổi mới (như hoạt động trao học bổng sau nghi lễ tưởng niệm ở đền thờ Trần Hưng Đạo số 36 Võ Thị Sáu TP. HCM). Chính tư duy bảo tồn và tính chất âm tính nơi người dân miền Bắc đã khiến họ cảm thấy không an tâm khi trong năm không xin được ấn đền Trần đem về nhà trừ tà hay hoạt động lễ hội không đầy đủ các nghi thức, dù thế nào họ cũng cố gắng để giữ gìn trọn vẹn truyền thống hết mức có thể.
Một điều rất đặc biệt của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần ở Nam Bộ là sự đề cao tính giáo dục. Tổ chức lễ là để tưởng niệm công ơn và cũng là để giáo dục lớp trẻ không quên truyền thống cha ông, hoạt động trao học bổng bản chất chính là khuyến học, tức là coi trọng giáo dục. Không năm nào lễ giỗ Đức Thánh Trần không có báo đài đưa tin. Hoạt động có thể đơn giản, có thể hoành tráng tùy theo thời điểm (ví dụ những năm kỷ niệm đặc biệt) nhưng bao giờ cũng trang nghiêm. Không chỉ người dân thường đi viếng lễ cầu xin tài lộc may mắn (nhất là được thăng tiến trên đường công danh sự nghiệp), xin ấn về trừ tà, cầu sức khỏe cho phụ nữ và trẻ con, binh chủng Hải quân trong và ngoài nước cũng tổ chức lễ kỷ niệm vì sinh thời Trần Hưng Đạo rất giỏi về thủy chiến qua sự kiện trận chiến trên sông Bạch Đằng. Hình tượng ngài đã trở thành một biểu tượng văn hóa đa dụng của người dân Việt Nam trên khắp mọi miền lãnh thổ.
