I. Lịch sử di cư của người Việt Nam ra nước ngoài
Theo số liệu thống kê của Bộ Ngoại giao trên website http://mienthithucvk.mofa.gov.vn/ tháng 5 2013. Hiện nay có hơn 3,2 triệu người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Lịch sử di dân của người Việt Nam ở nước ngoài có lẽ đã bắt đầu từ rất lâu. Nhưng trong lịch sử đất nước, chứng kiến 3 lần di dân lớn:
Từ thế kỷ 13 – thế kỷ 19: Chiến tranh, mâu thuẫn, trong triều đình, biến đổi khí hậu kép theo bão lụt, mất mùa, đói xem đã dẫn đến di cư của người Việt tị nạn và cơ hội làm ăn tại Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc… và một số nước Châu Âu. Vừa qua Người con hậu duệ đời thứ 36 của dòng họ Lý Long Tường, ông Lý Tường Tuấn đã từ Hàn Quốc tìm về Việt Nam xác nhận cội nguồn.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 đến trước năm 1954
Số lượng người Việt Nam di cư ở nước ngoài không lớn, khoảng trên dưới 100.000 người. Vào khoảng thập niên 1880, đang trong lúc cần người làm việc trong các mỏ kền (nikel) trên đảo Nouvelle Calédonie (Tân Đảo hoặc Tân Thế Giới), người Pháp nghĩ tới những người từ Á Châu như người Trung Hoa, người Nhật, người Nam Dương và người Việt Nam.
Ngày 12 tháng 3 năm 1891, con tàu mang tên Chéribon, sau một cuộc hành trình vừa lâu vừa khó khăn từ Hải Phòng tiến vào hải cảng Nouméa. Trên tầu là những người Việt Nam đầu tiên. Tất cả là 791 người, trong đó có chừng 50 phụ nữ. Trong số 791 người thì đại đa số là những người tù bị đi lưu đày, chỉ có 41 người là tự nguyện ghi tên đi làm, họ ký giấy làm việc trong một thời gian ấn định theo hợp đồng. Họ là những người “Chân-Đăng” đầu tiên với một niềm hy-vọng có một nếp sống mới tốt đẹp hơn, trình độ cao hơn là ở quê nhà. « Chân-Đăng » tạm dịch là người đi đăng ký xin việc. »
Sau 1975: Khoảng 150.000 người đã ra đi năm 1975, trong đó có 140.000 người ra đi cuối tháng 4/1975. Sau 1975 nhiều nghìn quân nhân và những đối tượng khác thuộc chế độ Việt Nam cộng hòa di cư đến Mỹ, Pháp, Canada, Đức, Đan Mạch, Thụy Điển, Bỉ, Úc… Đây là cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử di cư của người Việt.
1992 – nay: Giai đoạn này chính phủ Việt Nam gửi khoảng 1 triệu lượt người tới hơn 30 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có nhiều người Việt Nam di cư tự nguyện và hợp pháp. Số lượng lưu học sinh đi các nước tăng dần hàng năm, đặc biệt là tới Mỹ và Nga và nhiều quốc gia khác Singapore, Hàn Quốc, Úc, Canada, Anh, Pháp, Nhật… Người lao động xuất khẩu đi các nước Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan....hoặc các cô dâu Việt ở Hàn Quốc, Đài Loan...
II.Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với việc giữ gìn bản sắc dân tộc
Để nghiên cứu vấn đề này chúng tôi áp dụng phương pháp dịch lý của GS.TS. Trần Ngọc Thêm
1. Các cặp phạm trù đối lập:
Môi trường nước ngoài >< Môi trường trong nước
Bản sắc văn hóa >< Giao lưu tiếp biến
Tính bảo thủ, hồi cố, hướng nội >< Tính cởi mở, hướng ngoại
2. Tính tương hiện:
Đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một nhóm cộng đồng nhỏ, tính bảo tồn văn hóa sẽ cao hơn so với một cộng đồng lớn. Cộng đồng ngươi Việt ở trong nước là một cộng đồng lớn, sự giao lưu tiếp biến diễn ra phức tạp hơn. Chính vì vậy dù là cộng động người đi ra thế giới, hòa nhập với nhiều luồng văn hóa một cách trực tiếp nhưng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung vẫn tồn tại tính hướng nội và có nhiều ưu thế trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa
3. Tính tương hóa
Theo xu thế chung khi càng tiếp xúc với nền văn hóa khác càng dễ bị ảnh hưởng và diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến một cách thường xuyên. Theo cách nhìn thông thường thì bản sắc văn hóa Việt Nam đang có xu hướng dễ bị mai một với những người Việt Nam xa xứ.
Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn như vậy
Với người Việt Nam ở nước ngoài đang đi theo hai xu hướng
Với các thế hệ việt kiều thứ nhất – Hướng nội mạnh hơn hướng ngoại
Tiếp xúc với nền văn hóa khác nhưng bản sắc văn hóa lại được giữ gìn do tính hồi cố, hướng nội có sức mạnh hơn là tính hướng ngoại. Điều này càng thấy rõ hơn vì văn hóa Việt Nam vốn là văn hóa nông nghiệp lúa nước trọng tình và yêu quê hương, tổ quốc.
Qua sự khảo sát qua các trường hợp của của chúng tôi thì với những người Việt Nam thế hệ thứ nhất xa xứ họ luôn kỳ công để làm được món ẩm thực đúng vị quê hương ở nước ngoài, trong các lễ tết, cưới xin đều mặc áo dài khăn đóng. Ngôn ngữ không có sự thay đổi nhiều so với ngôn ngữ trong nước, gần như được bảo tồn nguyên trạng như khi họ ra đi. Nhiều gia đình Việt kiều thế hệ thứ nhất còn bài trí nhà cửa theo cách Việt Nam, giữ các phong tục theo cách truyền thống nhất của Việt Nam. Và họ biết lựa chọn những gì đẹp nhất của truyền thống để giữ gìn.
Với các thế hệ việt kiều thứ hai, thứ ba – Hướng ngoại mạnh hơn hướng nội
Đây là thế hệ Việt kiều sinh ra tại nước ngoài, họ được học tập và giáo dục theo văn hóa của nước sở tại. Ít có những ấn tượng về nguồn cội vì thời gian họ gắn bó với Việt Nam chỉ là những chuyến thăm quê hoặc qua lời kể, sự tiếp xúc qua sách báo, phim ảnh hạn chế vì các thông tin về Việt Nam chưa đủ sự hấp dẫn. Sự khác biệt là ngôn ngữ là vấn đề lớn nhất khi nhiều người trong số họ không biết tiếng Việt và tư duy theo ngôn ngữ của nước sở tại. Một số có sự tò mò về quê hương bản xứ và được bố mẹ truyền đạt lại các phong tục ở quê nhà. Tuy nhiên với thế hệ Việt kiều trẻ tuổi này, tính hướng ngoại cao hơn tính hướng nội, hồi cố(nếu so sánh với thế hệ bố mẹ, ông bà). Một phần do bối cảnh sinh trưởng, một phần do đặc trưng lứa tuổi quy định tính cách này. Vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa với nhóm Việt kiều này là vấn đề cần được quan tâm.
4. Tính hướng hòa:
Cùng với xu hướng hội nhập, giao lưu văn hóa, tiếp thu những tiến bộ từ các nền văn hóa khác, việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống giúp những người Việt ở nước ngoài có được một căn cước văn hóa riêng khi xa xứ, về mặt nào đó nó đảm bảo sự cân bằng về tâm lý đối với họ, đối với văn hóa Việt Nam nó là một lợi thế để có thể giới thiệu văn hóa Việt Nam đối với các nước khác, trước sự biến đổi nhanh chóng của văn hóa trong nước thì văn hóa Việt được giữ gìn trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể sẽ là một bảo tàng sống về văn hóa Việt phong phú và giàu bản sắc. Mỗi người Việt Nam đi ra thế giới chính là một sứ giả văn hóa cho vì vậy để thúc đẩy hơn các yếu tố tích cực đó, Việt Nam nên có các chính sách để khuyến khích tạo điều kiện hơn nữa trong việc phát huy bản sắc văn hóa của người Việt ở nước ngoài vd như: mở trường dạy tiếng Việt, tổ chức các lễ hội, các chuyến về nguồn với thế hệ việt kiều thứ 2, mở rộng các kênh thông tin hai chiều giữa cộng đồng người Việt nam trong nước và nước ngoài…
