Bài tập môn: Phương pháp nghiên cứu Khoa học
Giảng viên: GS. TS. Trần Ngọc Thêm
Học viên: Lê Huyền Trang
Lớp: Cao học VHH – K14B
Bài tập 1
Tên đề tài
TÔN GIÁO NỘI SINH CỦA NGƯỜI VIỆT VÙNG TÂY NAM BỘ
1. Các cặp phạm trù đối lập cơ bản
[Tôn giáo] [Nội sinh] [Người Việt] [Tây Nam Bộ]
Tôn giáo >< Tín ngưỡng
Nội sinh >< Ngoại lai
Người Việt >< các tộc người khác (Hoa, Khmer, Chăm…)
Vùng Tây Nam Bộ >< các vùng văn hoá khác
2. Các cặp đối lập chính trong đề tài
Tôn giáo nội sinh >< Tôn giáo ngoại lai
3. Vận dụng phương pháp dịch lý để nghiên cứu
Tính tương hiện
Tuy có mặt từ rất sớm, nhưng với hoàn cảnh xã hội vùng Tây Nam Bộ thế kỷ XIX có nhiều khủng hoảng, các tôn giáo ngoại lai như: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Nho giáo… hoặc là chưa đáp ứng đủ nhu cầu về niềm tin, chổ dựa tinh thần lẫn vật chất hoặc còn quá xa lạ đối với cư dân đương thời. Vì thế, sự xuất hiện của các “Ông Đạo”_ như một hiện tượng tôn giáo đặc thù Nam bộ với chức năng hỗn dung: vừa cứu rỗi tinh thần lại kiêm nhiệm sự giúp đỡ về đời sống vật chất (bào chế thuốc chữa bệnh, luyện phép hộ thân, đoán biết quá khứ vị lai…) nhanh chóng được cư dân tin tưởng, tiếp nhận, coi đó như cái phao cứu sinh giúp họ vượt qua những bế tắc trong cuộc sống có quá nhiều khó khăn: cả trong quan hệ với tự nhiên lẫn môi trường xã hội. Tuy nhiên, với lịch sử hình thành tương đối ngắn ngủi nên dù ít hay nhiều thì các tôn giáo nội sinh cũng phải có sự tiếp thu, kế thừa các tôn giáo ngoại lai (mô phỏng hệ thống thần phả, tổ chức tôn giáo, cơ sở tôn giáo…) để tạo nên tính hoàn thiện, chỉnh thể. Cho nên, về mặt tổng thể, tôn giáo nội sinh vừa có nét đặc thù riêng, vừa mang màu sắc tôn giáo ngoại lai; ngược lại, các tôn giáo ngoại lại cũng biến đổi, gia giảm các yếu tố bản địa để thích hợp với cư dân vùng đất mới.
Tính tương hoá
Tôn giáo nội sinh (Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hoà Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa…) là biểu hiện phần nào kết quả tích hợp của quá trình tiếp thu, kế thừa và cải biến tôn giáo ngoại lại với tín ngưỡng bản địa. Cho nên, trong quá trình vận động và phát triển các tôn giáo ấy, các yếu tố tôn giáo ngoại lai sẽ đóng vai trò làm nền tảng cơ bản, còn tín ngưỡng bản địa có vai trò như “cầu nối” duy trì sự gắn bó, ổn định, khăng khít giữa tôn giáo nội sinh với cộng đồng cư dân. Hai yếu tố này sẽ tác động và chi phối lẫn nhau để tạo nên một chỉnh thể tôn giáo nội sinh thống nhất trong đa dạng.
Tính hướng hoà
Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với nhiều biến động chính xã hội, chính trị… là một phần nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của các tôn giáo nội sinh. Thế nhưng, việc “sinh sau đẻ muộn” không làm cho các tôn giáo nội sinh gặp trở ngại bởi các tôn giáo ngoại lai đã tồn tại trước đó từ rất lâu_ điều này cũng thể hiện đúng phần nào tinh thần “mới” và “mở” của cư dân vùng đất Nam Bộ. Các tôn giáo này, từ sự phân biệt ban đầu “giống chúng ta” – “khác chúng ta”/ “của chúng ta” – “không phải của chúng ta” đã nhanh chóng trở nên thống nhất, quen thuộc và gần gũi hơn bởi hệ thống giáo lý cũng như hình thức tu tập và tên gọi của các ông Đạo (Đạo Dừa, Đạo Nằm, Đạo Đất…). Nói cách khác, sự mâu thuẫn, bài xích giữa các tôn giáo là không đáng kể, tinh thần khoan dung tôn giáo được thể hiện một cách vô thức trong sự tự do lựa chọn tôn giáo, niềm tin của các tín đồ.


