gửi bởi HOÀI TRINH » Chủ nhật 19/10/14 15:10
1) Tính cấp thiết của đề tài
- Một trong những nhân tố căn bản quyết định sự phát triển kinh tế “thần kỳ” của Nhật Bản là do những doanh nhân Nhật sớm nhận thức được và xây dựng thành công văn hóa kinh doanh cho hoạt động kinh doanh của họ.
- Nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa thực sự là nền kinh tế thị trường, chưa tạo được sự công bằng trong hoạt động kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam. Mặc dù doanh nghiệp Việt Nam đóng góp rất lớn, khoảng 80% GDP cả nước, nhưng phần lớn các doanh nghiệp chưa đạt được sự phát triển bền vững, chưa là những doanh nghiệp lớn mang tầm cỡ quốc tế hay là những tập đoàn kinh tế đa quốc gia. Văn hóa kinh doanh là một trong những nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự thịnh suy, lớn mạnh của doanh nghiệp.
- Nhật Bản và Việt Nam thuộc khu vực Đông Á, khu vực “Hán hóa” nên có nhiều điểm tương đồng về văn hóa như tư tưởng Nho giáo, nguồn gốc văn tự Hán… Do vậy, rất có ý nghĩa về phương diện lý luận và thực tế khi nghiên cứu văn hóa kinh doanh của người Nhật để rút ra bài học kinh nghiệm có khả năng áp dụng vào thực tiễn hoạt động kinh doanh của các doanh nhân Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay đầy vẫy những khó khăn, thách thức lớn cùng những thuận lợi không nhỏ cho sự thịnh vượng của đất nước nói chung và sự phát triển kinh tế vững mạnh nói riêng của Việt Nam. Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn chọn đề tài: “Văn hóa kinh doanh của người Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay” để nghiên cứu.
2) Mục đích nghiên cứu: rút ra bài học kinh nghiệm mà các doanh nhân Việt Nam có thể vận dụng nó, khai thác được lợi thế của doanh nghiệp, xây dựng nên văn hóa kinh doanh mang bản sắc riêng của doanh nghiệp nhằm đảm bảo mục đích gia tăng lợi nhuận nhưng vẫn duy trì những giá trị văn hóa trong kinh doanh; Đồng thời, góp phần tạo nên sự phát triển mạnh mẽ và bền vững của đất nước trong tương lai.
3) Lịch sử vấn đề
- Đến nay, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về văn hóa kinh doanh; tuy nhiên, nội dung nghiên cứu thường được trình bày một trong những yếu tố cấu thành nên văn hóa kinh doanh chẳng hạn như: Đỗ Thị Loan, Đỗ Minh Cương với “Triết lý kinh doanh với quản lý doanh nghiệp”, 1999; Đỗ Minh Cương trong “Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh doanh”, 2001; Phạm Mai Hương với “Nghệ thuật kinh doanh ứng xử văn hóa một số nước trên thế giới”, 2006;Trần Quốc Dân, “Tinh thần doanh nghiệp giá trị định hướng của Văn hóa Kinh doanh Việt Nam”, 2003; Nguyễn Mạnh Quân trong “Đạo đức kinh doanh và văn hóa công ty”, 2009;
- Hoặc là những tác phẩm cũng nghiên cứu về văn hóa kinh doanh nhưng không dựa trên sự phân chia theo ba yếu tố cấu thành của văn hóa đó là văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử như Trần Hữu Quang và Nguyễn Công Thắng trong “Văn hóa kinh doanh những góc nhìn”, 2007; Trần Thị Vân Hoa cùng tác phẩm “Văn hóa doanh nghiệp”, 2009;
- Riêng những nghiên cứu về văn hóa kinh doanh của Nhật Bản của người Việt chưa bao quát hết nội dung của văn hóa kinh doanh như: Takahashi Yoshiaki, Nguyễn Thu Hằng với "Quản trị kinh doanh học và quản trị doanh nghiệp tại Nhật Bản", 2009; Yoshiaki Takahashi, Nguyễn Thu Hằng trong "Khoa học quản lý và quản trị doanh nghiệp tại Nhật Bản", 2011;
Ngoài ra, còn rất nhiều nghiên cứu khác nhưng chưa mang tính hệ thống hết nội dung văn hóa kinh doanh theo sự phân chia: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử. Chính vì vậy, chúng tôi quyết định nghiên cứu văn hóa kinh doanh dựa trên ba yếu tố cấu thành của văn hóa theo quan điểm của GS. Trần Ngọc Thêm.
4) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Văn hóa kinh doanh của người Nhật làm đối tượng nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu được tập trung vào tìm hiểu, phân tích những đặc điểm văn hóa kinh doanh trong nhận thức, tổ chức và ứng xử của doanh nhân Nhật Bản kết hợp với những ví dụ cụ thể để minh họa.
- Phạm vi nghiên cứu: văn hóa kinh doanh của người Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay. Sở dĩ tác giả lựa chọn giai đoạn này là vì, đất nước Nhật Bản trở nên hoang tàn, xơ xác, cơ sở hạ tầng bị phá hủy hoàn toàn bởi hai quả bơm nguyên tử do Mỹ thả xuống hai thành phố lớn của Nhật Bản là Hiroshima vào ngày 6 và Nagasaki vào ngày 9 tháng 8 năm 1945. Nhưng ngay sau đó, chính phủ Nhật Bản đã bình tĩnh và sáng suốt đưa ra những chính sách phục hồi và phát triển đất nước một cách nhanh chóng bằng cách “đứng trên vai những người khổng lồ” mà khó có một quốc gia nào làm được thành công như thế.
5) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận văn hệ thống hóa và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về văn hóa kinh doanh của người Nhật, nêu lên những chính sách, chiến lược, cách thức hoạt động kinh doanh cụ thể mang lại sự phát triển vững mạnh cho doanh nghiệp Nhật Bản. Nếu thành công, luận văn góp phần nâng cao nhận thức vai trò quan trọng của văn hóa kinh doanh, hình thức tổ chức có hệ thống và cách ứng xử văn minh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, đóng góp vào tài liệu tham khảo cho sinh viên muốn nghiên cứu về lĩnh vực này.
6) Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa kết hợp với phương pháp nghiên cứu liên ngành khác như nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kinh tế, tâm lý trên cơ sở phân tích, so sánh những giá trị văn hóa trong hoạt động kinh doanh để làm sáng tỏ mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu.
-Nguồn tư liệu: tư liệu và tài liệu cả bằng tiếng quốc ngữ lẫn ngoại ngữ (tiếng Nhật và tiếng Anh).
7) Bố cục luận văn
Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, luận văn chia làm ba chương.
Chương 1 xây dựng cơ sở lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, cấu trúc, chức năng của văn hóa kinh doanh cùng với cơ sở thực tiễn trong văn hóa truyền thống ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh doanh của người Nhật từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay để thấy được sự hình thành văn hóa kinh doanh của người Nhật.
Trên cơ sở đó, chương 2 sẽ đi vào trình bày những đặc điểm kinh doanh của người Nhật và chương 3 sẽ nêu lên bài học kinh nghiệm từ văn hóa kinh doanh của người Nhật dành cho doanh nhân Việt Nam