Bài tập số 4 1. Tìm và phân loại các định nghĩa hiện cóĐồng tính luyến ái, còn gọi là đồng tính ái hay đồng tính. Tiếng Anh là homosexual
- Theo Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), NXB Khoa học xã hội Hà Nội năm 1988, trang 366:
“Đồng tính: chỉ có những ham muốn nhục dục, một cách trái tự nhiên, với những người cùng giới tính. Người đồng tính. Quan hệ luyến ái đồng tính.”
- Theo cố bác sĩ Trần Bồng Sơn, trong trang ykhoa.net, bài viết “Thắc mắc biết hỏi ai (phần 21)” :
“Đồng tính ái: Là những người chỉ quan hệ với người cùng phái, nam với nam (gay, pêđê) hoặc nữ với nữ (lesbian). Họ còn được gọi là “thiểu số tình dục”. Về mặt bệnh lý học tâm thần, họ được xếp vào nhóm lệch lạc đối tượng trong các bệnh lệch lạc tình dục.”
http://ykhoa.net/tinhduc_gioitinh/thacm ... phan21.htm- Theo bác sĩ Nguyễn Minh Hồng, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ y học thuộc Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Việt Nam, trong bài phỏng vấn “Những bóng cô thầm kín” năm 2006:
“Đồng tính ái còn gọi là tình dục đồng giới, có thể hiểu đó là sự hấp dẫn tình cảm và tình dục giữa người cùng giới - nam với nam, nữ với nữ… Người đồng tính ái chẳng có gì khác so với bất kỳ người bình thường nào, trừ những lệch lạc về định hướng tình dục. ”
http://ngoisao.net/tin-tuc/thoi-cuoc/24 ... 88570.html- Theo trang Wikipedia Tiếng Việt:“Đồng tính luyến ái, gọi tắt là đồng tính, là thuật ngữ chỉ việc bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu, tình dục hoặc việc yêu đương hay quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính với nhau trong hoàn cảnh nào đó hoặc một cách lâu dài. Với vai trò là một thiên hướng tình dục, đồng tính luyến ái là một mô hình bền vững của sự hấp dẫn tình cảm, tình yêu, và/hoặc hấp dẫn tình dục một cách chủ yếu hoặc duy nhất đối với người cùng giới tính. Đồng tính luyến ái cũng chỉ nhận thực của cá nhân dựa trên những hấp dẫn đó và sự tham gia vào một cộng đồng có chung điều này”
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1 ... Fn_%C3%A1i- Theo bác sĩ Hồ Đắc Duy, trong bài viết “Đôi điều cần biết về đồng tính luyến ái” năm 2010:
“Đồng tính luyến ái là một xu hướng, một sở thích về tính dục, nó không phải là một bệnh di truyền, nội tiết, thần kinh, do hoàn cảnh môi trường gây ra, nó không là bệnh mắc phải cũng không phải là bệnh về về rối loạn tinh thần hay tình cảm. Đối với người đồng tính luyến ái là họ chỉ cảm thấy ham muốn tình dục với người cùng giới mà thôi, nó chỉ là một khuynh hướng về hoạt động tình dục ”
http://suckhoesinhsan.org/index.php?opt ... Itemid=572- Theo ông Lê Quang Bình, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) trả lời phỏng vấn báo Văn Hóa về đám cưới đồng tính được tổ chức công khai ở Hà Nội năm 2011:
“Là cơ quan nghiên cứu, chúng tôi khẳng định rằng đồng tính không phải là bệnh mà là xu hướng tình dục bình thường. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh từ năm 1990 và coi đây là một phần trong sự đa dạng của xu hướng tình dục. Tôi cho rằng, tình yêu giữa những người đồng giới là một phần tự nhiên của cuộc sống, nếu pháp luật cho phép hai người đồng giới yêu nhau và ở với nhau là điều rất nhân văn. Một số nước như Hà Lan, Thụy Điển đã cho phép hôn nhân đồng tính, thừa nhận quyền kết hôn của họ.”
http://isee.org.vn/vi/Blog/Article/Dam- ... -cach-nhin2. Phân tích từng (nhóm) định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa

3. Phân loại các định nghĩa, xác định nét nghĩa chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu, cần bổ sung, sửa chữaCác định nghĩa đều thuộc loại nêu đặc trưng.
Các nét nghĩa chung có thể tiếp thu gồm có:
- Xu hướng/ thiên hướng tính dục/ tình dục.
- Hấp dẫn đối với những người cùng/ đồng giới.
- Phương diện tình yêu hay tình dục.
Các đặc trưng sai/ thiếu cần bổ sung, sửa chữa:
- Bệnh lệch lạc tình dục => Không phải bệnh.
- Chỉ cảm thấy ham muốn tình dục => Bao gồm cả tình yêu và tình dục.
- Trái tự nhiên => Tự nhiên.
- Giới => Chưa rõ nghĩa, phải ghi đầy đủ là giới tính sinh học, tránh nhằm lẫn với giới tính xã hội.
- Tính dục và tình dục cần phân biệt rõ => tình dục là hoạt động tính giao, tính dục là khái niệm rộng hơn:
“Tính dục là tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa người với người và do đó tác động trở lại xã hội”
http://yduocdoisong.com/suc-khoe/tinh-d ... 56230.html4. Tìm tất cả các cách khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả để điều chỉnh bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúngCác khái niệm hiện hành về đồng tính luyến ái, đồng tính ái, hay đồng tính đều sử dụng với nghĩa chỉ sự hấp dẫn lẫn nhau về mặt tình yêu và tình dục giữa những người có cùng giới tính sinh học. Cho nên, không cần phải bổ sung các đặc trưng cùng nội dung khác.
5. Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn, cấp zero) Xu hướng tính dục / khuynh hướng tính dục/ thiên hướng tính dục. Tiếng Anh là Sexual orientation
“Tính dục (tiếng Anh: Sexuality) - Hiểu một cách đơn giản đó là chuyện TÌNH DỤC (Sex) và TÌNH YÊU (Love) của một người.
Tính dục của một người được hình thành trong quá trình trưởng thành của người đó, nhấn mạnh vào mối quan hệ yêu đương của họ. Thông thường, một người sẽ xác định được xu hướng tính dục (sexual orientation) của mình ở giai đoạn dậy thì, khi bắt đầu có những cảm xúc yêu đương hướng đến một người khác. Từ đây, chúng ta có những khái niệm như dị tính (Heterosexual), đồng tính (Homosexual), song tính (Bisexual). Hay như người Vô tính (Asexual), cùng nhiều khái niệm khác nữa để mô tả các khuynh hướng yêu đương của con người”
http://ics.org.vn/vi/Knowledge/Article/ ... a-tinh-duc6. Xác định các đặc trưng loài cho phép khu biệt khái niệm được định nghĩa với các khái niệm khác cùng bậc1. Hấp dẫn >< lãnh cảm
2. Tình yêu và tình dục >< tình bạn, tình thân, tình đồng đội…
3. Cùng giới tính sinh học >< khác giới tính sinh học
7. Lập sơ đồ cấu trúc Đồng tính luyến ái là một xu hướng tính dục, thể hiện sự hấp dẫn lẫn nhau trên phương diện tình yêu và tình dục giữa những người có cùng giới tính sinh học. => Người đồng tình luyến ái là người bị hấp dẫn trên phương diện tình yêu và tình dục với những người có cùng giới tính sinh học với mình.
