1) Khái quát:
Sử thi – đồng nghĩa với anh hùng ca, là tác phẩm tự sự bằng thơ, ca ngợi sự nghiệp anh hung có tính toàn dân của 1 cộng đồng trong buổi bình minh lịch sử. sử thi miêu tả những anh hung tráng sĩ có vẻ đẹp kì diệu, khác thường mang màu sắc thần kì và thiên về hành động. Anh hùng ca, tráng sĩ ca cũng vậy, song dung lượng ngắn gọn hơn.
Sử thi là thuật ngữ văn học dùng để chỉ những tác phẩm theo thể tự sự, có nội dung hàm chứa những bức tranh rộng và hoàn chỉnh về đời sống nhân dân với nhân vật trung tâm là những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới nào đó.
Sử thi anh hùng còn lại trong văn học nhân loại dưới dạng các thiên anh hùng ca cỡ lớn, được ghi chép thành sách như Iliade, Odyssée (Hy Lạp), Mahabrahata, Ramayana ( Ấn Độ); dưới dạng truyền miệng như Dzangar, Alphamysh, Manas, Đăm San, Đẻ đất đẻ nước; hoặc các bài ca sử thi ngắn (bulina của Nga, junas của Nam Tư) được xâu chuỗi phần nào thành liên hoàn. Thường thấy các tác phẩm dưới dạng bài ca và lời thơ hòa lẫn vào nhau, hiếm khi thấy tác phẩm dạng văn xuôi.
Sử thi, nhìn nhận như 1 hiện tượng văn hóa, là phương tiện ngôn ngữ để truyền đạt những câu chuyện lịch sử hay thần thoại kể về những bậc thủy tổ - những anh hùng văn hóa, về các tích truyện dũng sĩ; xa xưa hơn nữa là các truyền thuyết lịch sử, các bài tụng ca.
Ở dạng cổ xưa nhất của sử thi, tính anh hùng còn hiện diện trong vỏ bọc thần thoại hoang đường (các dũng sĩ không chỉ có sức mạnh chiến đấu mà còn có năng lực siêu nhiên, ma thuật, kẻ địch thì luôn hiện diện dưới dạng quái vật giả tưởng). Những đề tài chính được sử thi cổ xưa miêu tả: chiến đấu chống quái vật (cứu người đẹp và dân làng), người anh hùng đi hỏi vợ, sự trả thù của dòng họ. Nảy sinh vào thời đại tan rã của chế độ công hữu nguyên thủy và phát triển trong xã hội cổ đại, phong kiến, nơi còn bảo lưu từng phần các quan hệ gia trưởng, sử thi anh hùng ảnh hưởng của các quan hệ và quan niệm ấy, đã miêu tả về quan hệ xã hội như quan hệ dòng máu, tông tộc với tất cả các chuẩn mực luật lệ, tập tục, truyền thống.
2) Chức năng:
câu chuyện ước mơ
Sử thi chứa trong nó những giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc. Sử thi thể hiện niềm mơ ước của người xưa về những điều tốt đẹp nhất có thể xảy đến mà chủ thể chính là những anh hùng, những người con của bộ lạc chứ không phải là thần linh đến cứu vớt, thương xót. Sử thi đã phát triển hơn về tư tưởng so với câu chuyện về các vị thần. Con người mong muốn sức mạnh cải tạo thiên nhiên, vượt qua thần thánh âu cũng là 1 một mơ ước chính đáng, tốt đẹp.
Niềm tự hào của bộ tộc, dân tộc:
Dân tộc nào có sử thi ắt hẳn đều tự hào về pho sách quí ấy. Sử thi được sang tạo vốn dĩ để cháu con tự hào về cha ông mình. Người xưa muốn những câu chuyện trên được truyền lại cho các thế hệ sau như một món của cải tinh thần ý nghĩa.
Sách vở lòng cho trẻ thơ:Chức năng giáo dục bao giờ cũng là mối lưu tâm hàng đầu khi cha ông sáng tạo ra những câu chuyện cổ, họ không bao giờ quên những câu chuyện cổ tích theo suốt tuổi thơ mình và một khi sáng tạo ra sử thi, người xưa muốn kể, dạy những bài học cho trẻ em, thanh thiếu niên và cả những người trưởng thành. Đó là bài học về lòng dũng cảm, tình yêu quê hương và niềm tin thiện thắng ác, chính thắng tà, bài học đầu về công lý.
Ở VN, từ trước chưa phát hiện ra sử thi, chỉ có Trường ca Đam San, được xem là bài ca dũng sĩ có phong cách anh hùng ca.
Gần đây có :
- Những bài ca mo của dân tộc Mường như tập Đẻ đất đẻ nước.
- Những bài Khan mới phát hiện ở Tây Nguyên, của các dân tộc Mơ Nông, Êđê, Gia Rai được tìm ra rất phong phú.
- Những bài Then của các dân tộc Tày Nùng.
Ngày nay có một thể loại mới trong văn xuôi đã được hình thành, gọi là tiểu thuyết Sử thi, nhưng không phải là văn học dân gian.


