[size=150]TỤC ĂN TRẦU CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
(ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT)
I.Lý do chọn đề tài:
1. Lí do khách quan:
_Đời sống con người thời nay cứ liên tục chuyển mình, mỗi phút trôi qua là mỗi phút đổi thay. Lối sống, quan niệm tư tưởng đạo đức của mỗi dân tộc không tránh khỏi những ảnh hưởng bên ngoài, qua thời gian đã có nhiều điều khác xưa.
_Tục ăn trầu ở Việt Nam đã và đang bị đẩy vào quá khứ, chìm đắm trong lớp bụi thời gian. Nhưng bao thế kỉ trôi qua ý nghĩa cao quý của biểu tượng này vẫn còn vẹn nguyên, nó khắc sâu trong tâm trí mỗi người dân Việt, trầu cau vẫn hiện diện như một lễ vật tất yếu trong các cuộc hôn nhân, tang ma, hay các lễ hội truyền thống khác, người Việt ở đâu cũng vẫn còn lưu giữ.
_Hẳn là tục này có ý nghĩa sâu sắc về đạo đức xã hội và đường lối giáo dục đại chúng từ nghìn xưa. Nó trở thành nét đẹp văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc ta, đáng được đề cao và có sự phân tích mang tính khoa học, để làm sáng tỏ.
2. Lí do chủ quan:
_Tục ăn trầu đã có từ lâu đời, nhưng mãi cho đến nay khi không còn phổ biến nữa nó vẫn tiếp tục chi phối người Việt Nam, nó tiềm ẩn trong trí nhớ của họ vừa mơ hồ lại vừa chắc chắn, như Nguyễn Ngọc Chương đã viết: “tiềm ẩn là do tính chất thời gian đã sâu thẳm, quên mà vẫn nhớ, nhớ mà vẫn quên, nhớ và quên không trọn vẹn”. Như thế trầu cau trở thành luồng tư tưởng dân tộc.
_Tìm hiểu về tục ăn trầu để hiểu thêm về con người Việt Nam.
_Người Việt cần hiểu người Việt một cách thấu đáo, bởi vì càng tự hiểu mình càng hạnh phúc và càng nâng tầm giá trị mình hơn.
II. Mục đích nghiên cứu:
_Nghiên cứu để hiểu rõ hơn tâm khảm của tâm hồn dân tộc bởi tục ăn trầu hàm chứa giá trị tinh thần và triết lý giáo dục của tổ tiên xưa.
_Từ đó củng cố và phát huy tinh thần dân tộc nhằm củng cố Đất Nước, xây dựng Tổ Quốc, phát huy tinh hoa dân tộc.
III. Ý nghĩa đề tài:
1. [u]Ý nghĩa khoa học:(nếu thành công)[/u]
_Giúp hiểu rõ hơn bản sắc văn hóa Việt Nam qua tục ăn trầu
_Tài liệu tham khảo cho người sau.
2. Ý nghiã thực tiễn:(nếu thành công)
_Phát huy tinh thần dân tộc, xây dựng Đất Nước
IV. Nội dung:
_CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TỤC ĂN TRẦU Ở VIỆT NAM[size=150]
I.1. NGUỒN GỐC CỦA TỤC ĂN TRẦU Ở VIỆT NAM
I.1.1. TỪ TRUYỆN TÍCH:
Sự tích trầu cau được ghi lại trong Lĩnh Nam Chích Quái, câu chuyện kể về hai anh em sinh đôi Cao Tân và Cao Lang mồ côi , sống hòa thuận và yêu thương, từ khi có vợ là Lưu Liên người anh tỏ ra ít quan tâm em hơn. Một hôm, giữa ba người xảy ra hiểu lầm:chị dâu ôm em vì tưởng chồng, người anh thấy, nghi ngờ, ngày càng thờ ơ. Chiều nọ, em bỏ nhà ra đi, đến bên suối, kiệt sức, chết và hóa đá. Anh đi tìm, chết, biến thành 1 cây thẳng đứng che chở tảng đá. Vợ tìm chồng, chết thành dây leo quanh thân cây.
Vua Hùng đi ngang, nghe kể, đặt tên cây cau, dây trầu. Nhai lá với quả thì có vị cay nồng, nhổ vào đá thấy màu đỏ tươi. Từ đó có tục ăn trầu
I.1.2. TỪ THỰC TẾ:
Được biết có một nền văn minh cau cọ trước khi có nền nông nghiệp lúa nước Trong quá trình hái lượm họ gặp các loại cây:cau rừng và các loại thuộc họ cau (cây nhúc, cây báng, cây quang lang,…) đâm cây này lấy bột , rây nhỏ để ăn. Tiến tới trồng cây.Khi có lúa gạo họ dùng cây này để ăn chơi: nấu chè, làm bánh,…hoặc ăn lúc mất mùa đói kém.Trong quá trình đó, họ phát hiện ra những vị lạ khi ăn kết hợp trầu, cau, vôi.
Có nhiều lí do để giải thích cho tục thích ăn trầu, lí do ưu tiên là để chống bệnh tật, nhai trầu vôi để ấm người, chống sốt rét, ngả nứơc, trị sán lãi, cho hơi thở thơm tho, dùng trầu cau như một thứ ma túy đem lại cảm giác say ngà ngà lâng lâng…
I.2. NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN TỚI TỤC ĂN TRẦU:
I.2.1. Các thành phần: trầu, cau, vôi, vỏ, thuốc lào. Vật dụng : cơi trầu, dao bổ cau, âu trầu, bình vôi, chìa vôi, ống vôi, khăn, túi đựng. Cách dùng: lá trầu quệt vào một chút vôi có thể là tím, đỏ hay hồng hồng rồi cuốn tròn lại như một cái tổ sâu hình nón chóp và xếp “khóa” cạnh đít lại…
I.2.2. Tục ăn trầu đi với tục nhuộm răng đen: má hồng, môi đỏ, răng hạt huyền là nét đẹp của người con gái thuở xưa.
I.2.3. Tác dụng và tác hại của việc ăn trầu:
_Tác dụng:chống hôi miệng, sâu răng, ăn vào thì tinh thần thoải mái nói năng hoạt bát hơn, má hồng môi đỏ phụ nữ lấy đó làm duyên…
_ Tác hại:nhai trầu có vôi, thuốc lào tăng nguy cơ ung thư vòm miệng.
I.3. TRIẾT LÝ NHÂN SINH QUA TỤC ĂN TRẦU:
_Triết lý về sự tổng hợp âm dương hài hòa: cau vươn cao là biểu tượng của trời (dương), vôi là đá biểu tượng đất (âm), dây trầu mọc từ đất quấn lấy thân cau là trung gian hòa hợp…
_ Khi đứng riêng chỉ là cây, lá và đá nhưng khi được nhai trộn ấp trong miệng người thì trở thành chất kích thích đủ vị: ngọt (cau), cay (trầu), nồng (vôi), bùi, chát (rễ)
_Giáo dục đạo lý làm người:
+ Vợ chồng thủy chung
+ Anh em hòa thuận, đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.
_ Lòng kiên nhẫn:nhai phải kĩ, lâu mới chuyển từ cay đắng, nóng bỏng đến đậm đà, ngọt ngào, khoan khoái, dễ chịu,…
I.4. NÉT ĐẸP VÀ GIÁ TRỊ VĂN HÓA:
_ Nghệ thuật giao tiếp đặc sắc:
+ Để thể hiện lòng quý mến thân ái, kính trọng: kính cẩn mời trầu.
+ Nam nữ yêu nhau mời trầu để tỏ tình, ăn trầu nghĩa là nhận lời.
+ Là lễ vật dạm hỏi, nhận trầu là đồng ý.
+ Người con gái sắp lấy chồng mang trầu đi biếu người thân cùng hàng xóm cũng ngầm thông báo rằng từ nay không nhận lời hỏi cưới nào nữa.
+ Trước lễ cưới, người xưa dùng trầu cau như thiệp mời.
+ Có thể nhận biết được tính cách của người con gái qua cánh trầu têm….
_ Hình tượng văn hóa phong phú trong nhiều lĩnh vực:
Trong dân gian:
+ Trong ca dao, tục ngữ: “miếng trầu là đầu câu chuyện”; “ trầu bọc khăn trắng cau tươi/ trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh/ ăn cho nó thỏa tâm tình/ ăn cho nó thỏa sự mình, sự ta”; “ai về nhắn chị hàng cau/ chiếu buồm dấp nứơc giữ màu cho tươi.”; “có trầu có vỏ không vôi/ có chăn có chiếu không người nằm chung”; “thân em như miếng cau khô/ kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày”; “anh về em đưa miếng trầu/ miếng thương miếng nhớ, miếng sầu anh ơi./ miếng trầu là miếng trầu đời/ quệt vôi em quệt cả lời trăm năm”……
+ Hát đối đáp: cô gái: “vô đây, ớ bạn vô đây/ trầu têm cánh phượng bỏ khay ngô đồng/ thuốc ngon vấn điếu xây giồng/ một bầu rượu cúc, hai hàng chén chai/ tối trời em chẳng biết ai/ chào chung một tiếng sáng mai sẽ nhìn…”; chàng trai: “hồi hôm anh mắc việc nhà/ bây giờ mới tới, đêm đà sang canh/ trầu cau không có trong mình/ bạn tình thật hay tình mời lơi?...”.
+Hát ghẹo: “có trầu mà chẳng có cau/ làm sao cho đỏ môi nhau thì làm”
Trong các tác phẩm
+ Thơ văn: “Quả cau …trầu hôi…/ đừng xanh như lá, bạc như vôi” (Hồ Xuân Hương); “đồn rằng đám cưới cô to/ nhà trai thuê chín chiếc đò đón dâu/ nhà gái ăn chín nghìn cau/ tiền cheo tiền cưới chừng đâu chín nghìn”(“Giấc mơ anh lái đò” của Nguyễn Bính)…
+ Nhạc điệu: “ngày xưa có hai anh em nhà kia, cùng yêu thương ở cùng nhau bỗng đâu chia lìa,…” (“trầu cau” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu) ;“nhà anh có một vườn cau, nhà em có một vườn trầu,…”(“Hoa cau vườn trầu” tác giả Nguyễn Tiến,…
CHƯƠNG II: TỤC ĂN TRẦU TRONG ĐỜI SỐNG NGƯỜI VIỆT NAM
II.1. TRONG CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY
_ Trầu để tiếp khách hằng ngày như bát chè xanh như điếu thuốc lào.
_ Ăn trầu trở thành thói quen không thể thiếu, đi đâu cũng mang bên mình, nó như một thứ ma túy nếu thiếu sẽ thấy chua hoặc hôi miệng. Lúc làm việc mệt nhọc, thư giãn bằng việc nhai trầu, …
_ Trầu cau là vật môi giới, là nhịp cầu nối tình yêu, bao nhiêu mối lương duyên xuất phát từ đây.
_ Cau trầu cũng là thứ dùng trong ngoại giao: sử cũ chép rằng: Vua Lê Đại Hành ngồi trên lưng ngựa mời xứ giả ăn trầu…
_ Ngày nay tục này đã không còn nữa, có chăng là những cụ già đến tuổi gần đất xa trời.
II.2. TRONG LỄ TẾT
_ Tết đến xuân về trầu cau là quà tặng, hay tiếp khách đến chúc xuân
_ Hơn thế trầu cau còn là đồ cúng lễ, dân gian có cau: “sửa cơi trầu, đĩa hoa dâng cụ” để tưởng nhớ tổ tiên và ghi nhớ công ơn sinh thành nuôi nấng của bậc tiền nhân, cầu tài lộc năm mới
_ Ngày nay không còn phổ biến nữa, có thể có hoặc không
II.3. TRONG HÔN NHÂN
_ Trong lễ hỏi: là sính lễ, hủ tục xưa còn thách cưới bằng trầu cau
_ Ở những làng quê xưa, sau lễ ăn hỏi, nhà gái thường dùng cau trầu, trà bánh mà nhà trai mang sang , chia ra từng gói nhỏ để làm quà biếu cho họ hàng, bè bạn, xóm giềng,..như một lời loan báo:con gái trong nhà đã có chỗ có . Trầu thay cho thiệp báo, thiệp mời trước ngày hôn lễ. Hiện nay không còn tục chia trầu này nữa
_ Trong lễ cưới xưa và nay trầu cau là lễ vật không thể thiếu. Chỉ có điều là nếu ngày xưa những lo lắng trong quá trình chuẩn bị đám cưới phần nhiều là ở trầu cau, thì ngày nay gần như sự lo lắng này chỉ dành cho các phần như: đặt tiệc nhà hàng, chụp hình, thuê áo, thuê xe, in thiệp…. Cau trầu không phải chia cho hàng xóm láng giềng nên khay trầu chỉ cần 6 miếng trầu têm và quả cau bổ sáu.
_ Miền Bắc thường têm trầu hình cánh phượng, miền Nam theo hình bánh ú
_ Ngày nay những lá trầu quả cau vẫn còn hiện diện trên mâm lễ cưới hỏi của người Việt trên đất khách như một biểu tượng trung trinh.
II.4. TRONG TANG MA
“Ngoài việc cúng trầu khi đưa tang, phải có khay trầu để mời bà con đi đưa đám, tạ với đội Ông Công phải có đĩa trầu” (Trần Quốc Vượng)
II.5. TRONG MỘT SỐ LỄ HỘI KHÁC
CHƯƠNG III: KẾT LUẬN
Tục ăn trầu đã đi vào quá vãng nhưng cái tinh thần trầu cau nồng đượm với đạo lý làm người sẽ mãi mãi được người đời sau lưu giữ, nó sẽ vẫn tồn tại trong đời sống người dân Việt như một khía cạnh không thể thiếu, như một nét duyên thầm của người dân xứ trầu cau để làm nên một tinh thần dân tộc độc đáo.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Côn Sơn 1994: Cau trầu đầu chuyện đặc thù trong đời sống tình cảm của dân tộc Việt Nam: NXB Đồng Tháp, 112 tr.
2. Trần Ngọc Thêm 1999: Cơ sở văn hóa Việt Nam: NXB Giáo Dục, 334tr.
3. Nguyễn Ngọc Chương 1990: Trầu cau Việt điện thư (tập 1): Sở Văn hóa-Thông tin Hà Nam Ninh, 370tr.
4. Mai Ngọc Chừ 1999: Văn hóa Đông Nam Á: NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 244tr.
4. http://www.vanhoahoc.edu.vn
5.www.vietshare.com
6.www.dulichvietnam.asia[/size]
