Tết Nguyên Đán Trong Văn Hóa Người Việt

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Tết Nguyên Đán Trong Văn Hóa Người Việt

Gửi bàigửi bởi linhlantrang0211 » Thứ 3 12/05/09 15:11

bài tập môn Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành


[center] TẾT NGUYÊN ĐÁN TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT[/center]

I. LÝ DO

Văn hóa Việt Nam bao gồm nhiều thành tố cấu thành, trong đó có phong tục mà điển hình là Tết Nguyên Đán, nhờ tìm hiểu Tết Nguyên Đán trong phong tục của người Việt sẽ góp phần nhận diện được nét đặc trưng của văn hóa Việt.

Có thể nói Tết Nguyên Đán góp vào văn hóa người Việt những nét tinh tế, độc đáo, Tết ta vẫn mang trọn vẹn đặc trưng văn hóa truyền thống dân tộc nhưng nhìn chung Tết Nguyên Đán của người Việt vẫn chịu ảnh hưởng của Trung Hoa trong việc xác định mốc đầu năm.

Tết Nguyên Đán tuy là một sản phẩm của lịch sử, mang nhiều mỹ tục nhưng vẫn mang trong mình những nhược điểm của thời đại cũ, khó hội nhập với hôm nay. Trước hết đó là sự tổn phí thời gian (trước và sau Tết) vì con người đổ của cùng sức khỏe vào dịp này quá nhiều, quá lớn.

Vì những lý do, trên nên tôi quyết định chọn: “Tết Nguyên Đán trong văn hóa người Việt” làm tiểu luận với mong muốn góp phần làm rõ những nét tinh tế, độc đáo của Tết Nguyên Đán trong nền văn hóa Việt Nam. Đồng thời đưa ra cách gìn giữ những nét độc đáo, riêng biệt ấy cũng như khắc phục những nhược điểm của thời đại cũ để Tết Nguyên Đán sẽ ngày một văn minh hợp thời đại hơn.
.
II. NỘI DUNG

1.Chương I: Khái niệm, nguồn gốc và ý nghĩa Tết Nguyên Đán

Từ xưa đến nay chúng ta luôn luôn tự hào vì truyền thống bốn ngàn năm văn hiến của mình, tự hào vì nguồn gốc con Rồng cháu Tiên, vì dân tộc có một lịch sử oai hùng trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Một đất nước có bề dày lịch sử như vậy lẽ dĩ nhiên có một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc của mình.

Quá trình phát triển lịch sử lâu dài cùng với các diễn biến xã hội đã tạo nên cho dân tộc Việt Nam một nền văn hóa đa dạng và phong phú như ngày nay. Tác động và ảnh hưởng của các nền văn hóa ngoại lai trong các thời kỳ lịch sử khác nhau đã tích lũy cho nền văn hóa dân tộc những nét tinh túy và tạo nên những nét đặc sắc cho nền văn hóa này. Sự tác động đó diễn ra trên nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên ở đây tôi chỉ nói đến phương diện lễ hội mà điển hình là Tết Nguyên Đán trong văn hóa người Việt.

1.1 Khái niệm

1.1.1 Tết là gì?

Tết vừa là một cuộc lễ qua đó con người bày tỏ kính ý của mình với tự nhiên, vừa là sự kỷ niệm để loan báo đánh dấu sự chuyển động mang tính chu kỳ của thời tiết/khí hậu trong năm

1.1.2 Tết Nguyên Đán là gì?

Tết Nguyên Đán trước đây gọi là Tết Chính Đán, Tết ta để phân biệt với Tết Tây hoặc Tết Cả để phân biệt với các Tết con còn lại.

Trước hết là từ “Tết” bắt nguồn từ từ “Tiết”. Lịch nông nghiệp xưa chia một năm làm 24 tiết: Lập Xuân, Xuân Phân, Thanh Minh, Sương Giá… trong 24 tiết đó, có những tiết liên quan đến đời sống và sinh hoạt của dân chúng hoặc rơi vào những dịp người dân thu hoạch xong mùa màng, hoặc kỷ niệm một sự kiện quan trọng của dân tộc, của đất nước, một số tiết trong năm được người dân tổ chức các cuộc tế lễ, dâng cúng hoặc tổ chức các cuộc vui chơi giải trí sau những ngày làm việc vất vả trong năm. Nên từ “Tiết” lâu dần thành “Tết”. Còn từ “Nguyên” nghĩa là “khởi đầu, bắt đầu”. Từ “Đán” là “buổi sớm mai”. Nguyên Đán là khởi đầu một năm mới. Như vậy, theo nghĩa ấy Tết Nguyên Đán là ngày tết bắt đầu cho một năm mới, là ngày mồng Một tháng Giêng, ngày mở đầu cho một năm mới với tất cả sự đổi mới từ cảnh vật đến con người. Năm mới đến những sự may mắn mới cũng đến và bao nhiêu những điều đen tối không may mắn của năm cũ sẽ tiêu tan, biến mất.

1.2 Nguồn gốc

Theo sự nghiên cứu của các nhà khảo cổ học cũng như sử học và nhân chủng học trên một số di chỉ được phát hiện thì Tết Nguyên Đán có lẽ bắt nguồn từ nhà Hạ bên Trung Hoa. Cổ sử Trung Hoa viết rằng các nhà thiên văn học và chiêm tinh học của triều đại nhà Hạ sau nhiều năm chiêm nghiệm sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, cùng các tinh tú trên bầu trời, sự tuần hoàn theo một chu kỳ gần như cố định của thời tiết, cỏ cây để dễ bề theo dõi tính toán. Họ chia một năm thành 12 phần tương đối bằng nhau đặt tên gọi cho mỗi phần của khoảng thời gian và cũng từ đó thập nhị chi ra đời: Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý Sửu. Ngày nay người ta thường nói tháng Dần, tháng Sửu chính là bắt nguồn từ đó. Thêm vào đó người xưa còn quy định mỗi tháng ứng với một màu riêng.

Ví dụ: tháng Dần ứng với màu đen. Tháng Sửu ứng với màu trắng. Tháng Tý ứng với màu đỏ
Từ khởi thủy các vị vua của triều đại nhà Hạ, lại thích màu đen nên mới lấy tháng Dần làm tháng Giêng đầu năm. Trong các ngày đầu năm của tháng Dần, vua cho phép dân chúng được tổ chức các cuộc vui chơi, hội hè vừa để chào mừng năm mới đến nhưng cũng để cho dân chúng bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với Đấng tạo hóa đã ban phát cho họ cái ăn cái mặc, mưa thuận gió hòa, an lành sức khỏe và nhất là mùa màng tốt tươi nên họ vội nghỉ ngơi, sắm sửa lễ vật, ca múa, làm các trò vui lạ

Sang các triều đại sau tùy theo sự ưa thích của ông vua khai sinh triều đại mà ngày đầu năm mỗi thời mỗi khác. Triều đại nhà Ân (Thương) thích màu trắng nên chọn tháng Sửu làm tháng đầu năm. Sang đến Đông Chu, Chu Bình Vương thích màu đen nên trở lại lấy tháng Dần. Tần Thủy Hoàng diệt xong sáu nước, gom thâu thiên hạ, thống nhất Trung Hoa lại lấy tháng Hợi làm tháng đầu năm. Nhà Hán lên thay nhà Tần, lúc đầu vẫn lấy tháng Hợi nhưng đến dời Hán Vũ lại lấy tháng Dần làm tháng Giêng đầu năm. Từ đó cho đến nay đã hai ngàn năm tháng Giêng vẫn là tháng Dần, nước Việt Nam cũng lấy nông nghiệp làm căn bản cho nền kinh tế quốc gia, trong quá khứ lại chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa Trung Hoa nên cũng lấy tháng Dần làm tháng Giêng khởi đầu cho năm mới đồng thời cũng làm lễ dâng cúng tổ tiên, tổ chức các cuộc vui chơi và gọi đó là Tết

1. Xét theo góc độ thời tiết cũng như sự tuần hoàn của tạo vật, cỏ cây thì việc lấy tháng Dần tức là tháng Giêng làm tháng tết là tương đối hợp lý nhất, vì đến tháng này cái lạnh lẽo của những tháng ngày đông lạnh đã qua, khí trời bắt đầu ấm dần lên, cây cối bắt đầu hồi sinh, đâm chồi nảy lộc, “thay da đổi thịt”, muôn hoa khoe sắc, khoe hương, chim chóc ca hót líu lo khiến cho lòng người cũng thấy như có sự thay đổi mới, chan chứa một niềm lạc quan về một tương lai ấm no, thịnh vượng sau một năm dài làm ăn cực nhọc vất vả, nên họ náo nức dọn lòng để đón chờ năm mới, vận hội mới, hòa mình vào cái vui chung của trời đất, bỏ lại đằng sau lưng những xấu xa, rủi ro, những ích kỷ, hận thù của năm cũ mà vồn vã, vui vẻ đi lại thăm nhau chúc tụng lẫn nhau mọi sự tốt lành nối kết lại tình làng nghĩa xóm. Tập tục đó đã lưu truyền từ đời này sang đời kia, mỗi thời mỗi địa phương, tuy có thêm bớt đôi chút nhưng tựu chung người dân Việt từ cổ chí kim vẫn coi trọng Tết Nguyên Đán.

2. Tết Nguyên Đán gồm những gì?

Tết Nguyên Đán gồm hai phần: phần Lễ và phần Hội.
Phần Lễ: những thủ tục nghi lễ biểu hiện lòng biết ơn và những nguyện vọng cầu xin đối với tổ tiên, thiên nhiên. phạm vi cửa hành lễ rất rộng, ở tư gia, ở đình làng, ở nhà thờ họ (từ đường) ở nơi thờ tổ nghề, ở chùa…
Phần Hội: sinh hoạt những loại hình văn hóa truyền thống, chủ yếu là nghệ thuật thanh sắc và hình khối.

1.3 Ý nghĩa

Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán là Tết đặc biệt quan trọng nhất. Điều này thể hiện ở chỗ: một mặt, bất kể người giàu hay người nghèo, tầng lớp trên hay dưới, có học hay thất học đều phải đón Tết sao cho long trọng nhất (tất nhiên là tương ứng với hoàn cảnh kinh tế của mình). Mặt khác, Tết Nguyên Đán mang đến cho tất cả mọi người một sức mạnh tinh thần không có gì có thể thay thế được đó là sự háo hức đón chờ, sự hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn ở năm mới.
Đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán quan trọng đến nỗi trong ngôn ngữ thông thường, Tết đồng nghĩa với Tết Nguyên Đán.

Ví dụ: “Tết Cả”, “sắp đến Tết rồi!”, “Tết này anh có về quê không?”, “đến Tết sang năm nhé!”…
Sở dĩ Tết Nguyên Đán có ý nghĩa quan trọng như vậy là vì: bên cạnh cái linh thiêng, thần bí (thể hiện ở các nghi thức cúng lễ, cầu xin, các điều kiêng kỵ, cũng như những niềm tin trong mỗi con người…) Tết Nguyên Đán còn có tính cứu cánh trần tục của nó.

Tết là dịp để mọi người củng cố phát triển quan hệ xã hội của mình kể cả việc “hàn gắn” những “rạn nứt” do những va chạm trong đời sống thường ngày (thậm chí những hận thù cũng được lắng dịu, đôi khi còn được xóa bỏ).

Như thế, Tết có tác dụng củng cố, gia tăng tính thân thiện của con người với nhau (trong gia đình, họ hàng, cộng đồng, cơ quan xí nghiệp… ) điều này các nhà nghiên cứu gọi là “luật cố kết xã hội”.
Không chỉ có thế, Tết còn là dịp để con người tái xác lập quan hệ của mình với tổ tiên, với thần linh. Người Việt xưa và nay vẫn tin rằng: ngòai thế giới trần tục này, còn có một thế giới khác của linh hồn, thần linh. Người Việt thường nói: “dương sao - âm vậy”. Vì thế họ ứng xử với tổ tiên, thần linh, ma quỷ theo chính những quy tắc ứng xử của xã hội họ đang sống.

Mặt khác việc cúng lễ tổ tiên, thần linh trong dịp tết không chỉ là sự cảm ơn tổ tiên, thần linh, về những gì đã đạt được trong năm cũ, hay cầu xin ở họ sự phù hộ trong năm mới, mà còn là dịp để nhắc nhở con cháu một nguyên tắc sống đẹp “uống nước nhớ nguồn”

Tết Nguyên Đán còn là ngày hội ở gia đình. Dù đi đâu ở đâu thì đến Tết mọi người Việt Nam đèu muốn quay trở lại ngôi nhà ở quê hương của mình, nơi có bố mẹ mình và bàn thờ tổ tiên để đón Tết. Hơn ai hết, những người vì điều kiện nào đó không thể về quê đón Tết sẽ cảm nhận được nổi buồn của kẻ tha hương. Đối với họ, tết là hình ảnh cụ thể sinh động về gia đình quê hương.

Chương II: Chuẩn bị đón Tết

Thật ra đối với người Việt Nam, Tết Nguyên Đán không chỉ là thời điểm giao thừa mà là cả một thời gian dài từ 23 tháng Chạp (năm cũ) đến mùng 7 tháng Giêng (năm mới). Có thể so sánh Tết Nguyên Đán của người Việt Nam như là lễ Noel của các nước theo Kitô giáo.
Cho đến nay, mặc dù Việt Nam đã bước sang thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, nhưng trong tâm trí người Việt, khoảng thời gian Tết là hai tuần này vẫn chưa hề thay đổi, chưa hề bị thu hẹp lại. (mặc dù chỉ cho phép công nhân viên chức nghỉ 3 ngày)

2.1 Tiễn Táo Quân về trời

Có thể coi lễ cúng Táo Quân là phong tục khởi đầu trong chuỗi các phong tục cổ truyền của người Việt trong những ngày Tết Nguyên Đán. Đối với người Việt ông Táo hay Táo Công, Táo Quân (vua bếp) vừa là vị thần che chở (chăm lo việc ăn uống của gia đình, đề phòng hỏa hoạn); vừa là vị thần giám sát (ông ta ghi chép mọi diễn biến tốt – xấu trong cả một năm của gia đình đẻ báo cáo với Ngọc Hoàng). Vì thế ứng xử của người Việt là vừa biết ơn vừa “nịnh” Táo Quân.

Cứ đến ngày 23 tháng Chạp, người ta lại đồng loạt sắm lễ vật để đưa ông Táo về chầu trời. Ngày nay, khi đời sống kinh tế của người dân đã tương đối ổn định và khá giả, tục cúng Táo Quân dường như đã được khôi phục như xưa.

2.2 Dựng nêu

Người Việt có một phong tục cổ truyền là: cứ đến 30 Tết mỗi nhà dựng một cây nêu trước nhà, trong sân nhà mình.
Nêu được làm bằng cây tre cao, trảy bỏ hết các nhánh, chỉ chừa lại phần đọt (có lá) trên ấy treo một số vật tượng trưng gọi là bùa nêu để trừ tà quỷ.

2.3 Sắm tết

Nếu như đối với người theo đạo Thiên Chúa, thời gian trước Noel là khoảng thời gian thú vị nhất vì lúc này họ rất cao hứng trong việc mua sắm, thì ở Việt Nam ở những tuần trươc Tết, người ta cũng sắm tết rất hào hứng, bất kể giàu hay nghèo, người ta mưa sắm cứ như là “bắt được tiền”.

2.3.1 Mua sắm đồ ăn tết

Xưa kia với nền kinh tế thuần nông, bấp bênh năng suất thấp, người Việt (nhất là ở miền Trung và Bắc Việt Nam) phải dè sẻn quanh năm. Chỉ đến tết mọi người mới được pháp “tiêu hoang” một chút và sự tiêu hoang ấy cũng nghiêng nhiều về phương diện ăn (theo nghĩa đen: ăn nhiều hơn, ngon hơn, đặc biệt hơn, uống say hơn… ) vì thế trong ngôn từ của người việt mới có từ ăn Tết.

Tuy nhiên về phương diện văn hóa, phải thấy rằng các đồ ăn ngày tết cũng như cách ăn của người Việt triong những ngày tết đã thể hiện một truyền thống văn hóa lâu đời và mang tính bản sắc

2.3.2 Hoa tết và cây cảnh

Một trong những biểu thị khác thường nhất của người Việt trong ngày tết là chơi hoa. Ngày thường, người nào khá giả thì có trồng hoa ở vườn hoặc trong chậu, người nào nào thì chỉ ngày rằm, mồng 1 căm hoa ở ban thờ. (không kể ở thành phố từ khi học được văn hóa Tây người ta thường trang trí phòng ở hoặc phòng khách bằng hoa tươi căm trong lọ)

Có thể nói đối với người Việt, hoa đào là biểu tượng của mùa xuân, của tết nguyên đán. Trưng một cây hay một cành đào trong phòng khách từ lâu đã trở thành một tập quán, một nét đẹp văn hóa của người Việt
Ở Nam Bộ, khí hậu nóng, không có hoa đào, ngừơi Việt đã chọn hoa mai vàng làm thứ hoa tết để thay thế cho hoa đào.

Ở vùng núi phía bắc người ta thường lấy hoa mận trắng để thay thế hoa đào
Cách đây khoảng 20 năm thôi, không nàh nào là không có hoa đào để trưng bày trong ngày tết. Dù nghèo không thể mua cả một cây hay một cành, thì người ta vẫn cố mua những nhánh dào vụn – gọi là “đào dâm” – để căm trong lọ nhưng từ khoảng hơn chục năm nay cây quất đã trở thành một biểu trưng mới của ngày tết. Thậm chí nhiều ngừi vì tiết kiệm, hoặc không sung túc lắm, không thể mua đủ hai thứ (đào và quất) đã lựa chọn quất. Tại sao vậy? Ở đây chúng ta lại bắt gặp lối suy diễn dân gian mang tính thực dụng của người Việt: người ta thấy ở cây quất sự đồng dạng với cây vàng. Họ trưng cây quất với mong muốn năm nay gia đình sẽ được giàu sang

Xu hướng này được phát triển từ những năm đổi mới ở những người dân thị thành, sau mới lan về nông thôn. Nếu xu hướng này (trưng cây quất) mà thắng thế thì thật là một tổn thất cho văn hóa của người Việt (vì dù sao hoa đào có tính biểu trưng tinh thần thuần khiết và lâu đời hơn)

2.3.3 Câu đối và tranh tết

Để tương ứng với không khí thiêng liêng và tưng bừng của ngày têt – mà người Việt thường quan niệm “một năm mới có một lần” - người ta rất chăm chút cho việc dọn dẹp vệ sinh và trang hoàn nhà cửa. Người Việt săm hoa tết, lâu chùi, đánh bóng các đồ thờ, người Việt còn có một phong tục cổ truyền là treo câu đối và tranh tết

Câu đối: xưa chỉ có ở các nhà đại gia (quan to lâu đời) là người ta không cần phải mua câu đối Tết. Vì thường ở gia đình họ đã có đủ những bức hoành phi, câu đối đắt tiền và có ý nghĩa riêng biệt, phù hợp với gia thế, công dức của gia chủ (thương khi các câu đối này là do các quan đồng liêu hay cấp trên viết tặng). Hơn nữa, gia chủ những nhà này thường là những người hay chữ. Vì thế, ngày tết ở những gia đình này, người ta chỉ lau chùi sạch sẽ lại những bức hoành phi câu đối đó chứ không mua chữ như bậc thường dân hay thương nhân.

Đa số bậc thương dân ít học, thậm chí mù chữ nhưng họ rất tôn trọng, thậm chí sùng bái chữ thánh hiền. Họ quan niệm rằng, năm mới treo câu đối trong nhà chính là sự bày tỏ nguyện ước tốt đẹp của gia đình với đất trời với cộng đồng, và ước nguyện ấy sẽ được đáp ứng.

Thông thường các làng quê của người Việt các ông đồ nho là nhân vật chính trong quan hệ “mua – bán”, “xin – cho” chữ này. Ở phiên chợ tết cuối năm, người ta thấy “những ông dồ đeo kính, quốc phục chỉnh tề, vẻ mặt lúc nào cũng đạo mạo mà vui vẻ, nghiêm trang nhưng cởi mở, bề bộn nào giấy, nào bút, nào nghiên, sẵn sàng khom lưng viết câu đối thể theo ý muốn ước nguyện từng người”

Tranh tết: ngày tết dân ta còn muốn biểu thị ước muốn của mình một cách trực tiếp hơn: đó là dán tranh tết lên vách nhà, chỉ riêng sự đa màu và độ sặc sỡ của tranh tết cũng đủ làm cho từng căn nhà trở nên tưng bừng khác thường rồi. Nói chung chủ yếu các bức tranh này là Phú, Quý, Thọ, An, Khang hoặc những “ motiv” về bốn mùa hoặc những vị anh hùng dân tộc.

2.3.4 Sắm quần áo mới

Ngyà thướng đan ta đã có câu “già được bát canh, trẻ được manh áo mới” ngày tết, niềm vui ấy được nhân lên gấp bội. Vì thế, trong các kế hoạch mua sắm tết ở các gia đình sắm quần áo cho con trẻ là mục nhất thiết phải có.

Trước đây người lớn thường đẻ dành một bộ quần áo đẹp nhất của mình, ngày thường cất kỷ trong rương, trong tủ, chỉ ngày tết, ngày lễ mới đem ra mặc. Những bộ quần áo như thế được dân ta quan niệm là “mới’.
Ngày nay sắm một bộ quần áo mới không còn là vấn đề kinh tế dối với đại đa số người dân Việt Nam nữa từ thành phố cho đến nông thôn.

Dường ta cái cảm giác “mới” được tô đậm và nhân lên, người ta được mặc quần áo mới để đón chào năm mới.
2.4 Các phong tục “Tất Niên”

“Tất Niên” có nghĩa là kêt thúc năm cũ để chuẩn bị đón một năm mới. Các hành vi sự kiện có ý nghĩa “tống cựu nghinh tân” ở thời gian này (trước giao thừa) thường mang tính nghi thức và từ lâu đã trở thành phong tục của dân ta. Buổi liên hoan tất niên ở cơ quan, chuyến xe chở khách cuối cùng trong năm, lần tắm cuối cùng trong năm, đòi nợ cuối năm… đó là những phong tục tất niên.

2.4.1 Tắm tất niên

Ngày nay, chắc hẳn trong số thanh thiếu niên đương đại, sẽ có người thắc mắc rằng tăm slà một sinh hoạt tất yếu thường xuyên (có khi có người tăm 2 lần/ngày) thì tại sao lại có phong tục này.

Xin thưa rằng, ở Việt Nam trước hết là những tháng mùa đông, mưa phùn gió bấc; vì thế tắm không phải là sinh hoạt thường ngyày và sinh hoạt định kỳ (nên nhớ rằng trước đây, nông thôn Việt Nam không có điện và ngay cả bây giờ khi đã có điện thì người nông thôn cũng chưa đủ điều kiện để mua săm – sử dụng thiết bị đun nước nóng để tắm) Nói cách khác, tắm tất niên trước hết phải được hiểu theo nghĩa đen của từ này là làm vệ sinh thân thể cuối cùng trong năm cũ. Tuy nhiên tắm tất nhiên mang ý nghĩa tinh thần là chính. Người ta nấu nước nóng với các loại lá thơm để tắm tất niên, vì thế có thể nói bên cạnh tác dụng “tẩy uế” về thân xác thhì tắm tất niên còn có ý nghĩa “thanh tẩy” về tinh thần: dường như sau khi tắm nước thơm, người tah cảm thấy mình trong sạch hơn, sảng khoái hơn.

2.4.2 Đòi nợ cuối năm

Các chủ nợ có lệ cuối năm thường thúc con nợ, cố đòi cho được số tiền đã cho vay, dù rằng đòi được tiền về để đấy. Người ta cho rằng nếu không đòi được tiền trước giao thừa, ngày hôm sau món tiền đã ra nợ cũ, và ngày mồng một đầu năm và những ngày sau nữa người ta không dám đòi nợ vì con nợ kiêng “sợ dông”. Đòi nợ vào ngày tết không những con nợ không trả nợ, mà có khi còn mắng lại chủ nợ vì không biết kiêng cho mình.
Tục lệ như vậy nên cái ngày tất niên này, những người có nợ làm ăn kém may mắn không có tiền trả mà chủ nợ không chịu, đành phải đi trốn nợ cho đến lúc giao thừa mới trở về có câu:
“khôn ngoan đến cửa quan mới biết
Giàu có ba mươi tết mới hay”

2.4.3 Thăm mộ gia tiên

Trong ý nghĩa về tình cảm của người Việt, tổ tiên và người thân đã chết vẫn là thành viên của gia đình mình.
Trước kia, thi hài của tổ tiên thường được mai táng ở giữa thửa ruộng của gia đình hoặc có nơi (như ở miền Trung trung bộ và Nam bộ) thì ở vườn cây gần nhà ở. Nay các làng đã quy hoạch nơi chôn người chết thành một khu vực riêng, ở rìa làng. Ở thành phố thì người ta có vài khu nghiã địa chung.
Quanh năm, ngày mồng một và ngày rằm những dịp vui hay buồn, người Việt đều tưởng nhớ đến gia tiên. “Và tết, vui xuân, người Việt cũng muốn gia tiên về hưởng tết. Bởi vậy, ở nhiều nơi, sau khi sắm sửa tết xong người ta có tục đi viếng mộ, đáp lại mộ, thắp hương khấn mời hương hồn người đã quá cố về hưởng tết” Ngày nay, tục này vẫn được duy trì từ nông thôn cho đến thành thị

2.4.4 Cúng gia tiên

Chiều 30 tết mọi việc sử soạn đã xong xuôi, sau khi dsã đi viếng một gia tiên về, người ta sửa lễ cúng gian tiên, người ta thường dùng hương vòng hoặc hương sào. Hương vòng là một cuộn hương thắp được suốt đêm đến sáng, còn hương sào là một cây hương thật to, có thể thắp được suốt ngày đêm mới hết. Ta cúng gia tiên vào lúc chiều 30 tết, bởi vậy, lúc cúng giao thừa ta không cúng gia tiên nữa. Cúng gia tiên 30 tết, sáng mồng một cũng lại cúng. Và trong mấy ngày tết cho đến khi hóa vàng, ngày hai buổi có lễ cúng gia tiên.

2.4.5 Cúng Thổ công

Gia đình người việt nào cũng có một bát hương dành cho Thổ công (hay còn gọi là Quan thần linh trông coi đất nhà ở) bát hương này thường được đặt chung với bàn thờ gia tiên. Nhà nào rộng rãi khá giả thường đặt bàn thờ thổ ôcng riêng.
Ngày nay, lễ cúng thổ công thường được tiến hành chung lễ cúng gia tiênh vào buổi chiều tất niên. Ngoài những lễ vật chung như trầu cau, hương, hoa, quả, đèn nhang, gạo muối rượu, các gia chủ thường sắm thêm một bộ áo mũ, hia, hàng mã để biếu thổ công người đã trong coi giúp đỡ gia đình mình trong suốt năm qua
Do cúng chung, văn cúng cũng được gọp vào văn cúng gia tiên (sau khi thỉnh tên gọi đồng gia tiên người ta thỉnh luôn danh tính của thổ công)


Chương III: Vào tết


3.1 Lễ giao thừa: Tống cựu - Nghinh tân

3.1.1 Mười hai vị đại vương hành khiển

Đây là một lễ chính không thể thiếu trong toàn bộ quá trình đón tết của người Việt: lễ đón giao thừa. Tuy nhiên, giao thừa, đối tượng được cử lễ - trong văn hóa dân gian cổ truyền của người Việt, không phải là cái gì đó trừu tượng vô hình vô cảm nó được biểu tượng hóa thành 12 vị đại vương hành khiển và phán quan.
12 vị đại vương mỗi ông cai trị một năm cõi nhân gian là Thập nhị hành khiển vương hiệu, tính theo Thập nhị chi bắt đầu là năm Tý, cuối cùng là năm Hợi. Hết năm Hợi lại quay trở lại năm Tý với đại vương hành khiển của 12 năm về trước. Các vị đại vương này còn được gọi là đương niên chi thần, mỗi vị có trách nhiệm như trên đã nói cai trị thế gian trong toàn niên, xem xét mọi việc hay dở của từng người từng gia đình từng thôn xã cho đến từng quốc gia để định công luận tội,tâu lên Thượng đế. Mỗi vị đại vương hành khiển đều có một vị phán quan giúp việc.

Nguyên thủy, lễ đón các vị đại vương hành khiển - mặc dù ngày nay thường được tiến hành ở tư gia - là lễ công một trong những biểu thị của bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt: tất cả vì cộng đồng. Thật vậy: dân ta làm lễ đón quan hành khiển bằng nghi lễ, lễ vật trang trọng nhất không phải cầu lợi cho riêng từng gia đình, từng có nhân, mà lo lắng đến sự an nguy suy thịnh của cộng đồng mình: loạn đao binh, thủy tai, hỏa tai và ôn dịch.

3.1.2 Chuẩn bị lễ vật

Ngày nay , chỉ còn một số làng cổ, người ta còn làm lễ giao thừa tịa nơi đình chung, miếu mạo, còn đa phần đã chuyển lễ này về thành lễ ở tư gia. Như thế, lễ giao thừa vốn là một khuôn mẫu của văn hóa cộng đồng, nay đã tơr thành một khuôn mẫu văn hóa gia đình. Thường là sau lễ cúng gia tiên và bữa cơm tất niên chiều 30 tết, mọi người trong các gia đình bắt đầu chuẩn bị cho lễ giao thừa

Bàn thờ giao thừa được lập ở giữa trời (không để ở trong nhà) “một chiếc hương án được đưa ra, trên hương án có đỉnh trầm hương hoặc bình hương, thắp tỏa khói nghi ngút. Hai bên đỉnh trầm hương có hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến. Lễ vật gồm chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả rượu nước và vàng mã. Đôi khi có thêm cỗ mũ của vị địa vương hành khiển. Lễ quý hồ thành bất quý hồ đa, nhưng dù nhiều ít, lễ vật bao giờ cũng có vàng hương, vàng lá hay vàng thỏi tùy tục địa phương, và nhất là không quên được rượu vì vô tửu bất thành lễ.

Ngày nay, do lễ này đã biến thành lễ ở gia đình nên lễ vật đã đơn giản hơn: thay vì thủ lợn là một con gà trống, không có đỉnh trầm hương mà chỉ có một bát hương bình thường và một đôi nến. Ngoài ra, có các lễ vật khác như: bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước, gạo muối, vàng mã, cỗ mũ, áo để biếu quan hành khiển

Dân ở các thành phố, đa phần phải ở tập thể chặt chội không có sân nhưng họ vẫn cố gắng lập bàn thờ (dù nhỏ) ở một nơi có thể thông thoáng với trời (ví dụ ban công hay gác thượng hoặc trước cửa nhà)

3.1.3 Văn khấn lễ giao thừa

Như trên đã nói, lễ giao thừa ngày nay đã trở thành khuôn mẫu văn hóa của gia đình nên nội dung cầu cúng cũng đã chuyển từ cầu phúc cho từ già đến trẻ tong cộng đồng sang cầu phúc cho các thành viên trong gia đình.
Mẫu văn khấn
Nước Đại Việt, năm Đinh Mùi, ngày mồng mọt tháng Giêng, xuân tiết

Đệ tử là Nguyễn Đức Cầu, quan làng Cổ Mễ, huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, cư ngụ tại xã Phú Nhuận, quận Tân Bình, tỉnh Gia Định cùng toàn thể gia đình cúi đầu trăm bái. Kính cẩn có hương đèn, vàng bạc, hoa quả, trầu rượu, trà nước thêm một vật phẩm dâng lên.

Vọng bái:
Trước bệ ngọc đức Tổng vương hành khiển, Ngũ đạo chí đức tôn thân:
Lâm tào phán quan tại vị ở trước
Dức thổ địa nơi đây tại vị ở ttrước
Đức thành hoàng bản cảnh tại vị ở trước
Cầu chư vị chứng giám
Cúi đầu kêu xin:
Chư vị phù hộ cho toàn gia chúng tôi từ già đến trẻ, quanh năm được tăng phúc tăng thọ, người an, vận thịnh, vạn sự hanh thông
Cẩn cáo

3.2 Một số tục lệ sau giao thừa

3.2.1 Đốt pháo

Truớc và sau thời điểm giao thừa khỏang 5 phút,không ai bảo ai tất cả các nhà đều cùng đốt những bánh pháo tốt nhất,dài nhất.Dân ta tin rằng,nếu bánh nổ đanh, to, rền thì năm ấy gia đình gặp nhiều may mắn và nguợc lại, nếu xịt thì gặp xui xẻo.Đốt pháo chắc chắn là một hệ quả của quá trình xâm nhập của văn minh Trung Hoa vào Việt Nam. ( Những chứng cứ dân tộc học các cư dân bản địa cho thấy: Họ đón Tết năm mới mà không có đốt pháo).

Nguyên thủy, đốt pháo là một nghi thức ma thuật trấn áp. Nguời Tàu cũng như dân ta tin rằng, tiếng pháo sẽ trấn áp, đuổi đuợc tà ma.

Trải qua hang ngàn năm, đốt pháo đã trở thành một phong tục không thể thiếu của dân ta khi đón Tết.
Về phuơng diện văn hóa, đốt pháo vào thời diểm giao thừa để đánh dấu thời điểm thiêng liêng “tống cựu, nghênh tân” đã trở thành một nghi thức mang tính biểu trưng, có nghĩa là không thay thế. Thực tiễn trong một số năm vừa qua cho chúng ta thấy rõ hơn về điều này; các nhà quản lý xã hội đã cố gắng thử thay thế tiếng pháo và việc đốt pháo bằng những nghi thức “mới” (như thả đèn, đánh trống, các diễn xuớng trên vô tuyến truyền hình…) nhưng đều không thành công.

Về phuơng diện tâm lý, không đốt pháo gắng liền với sự trống rỗng bên trong của mỗi con nguời: không còn nữa sự háo hức đợi chờ thời điểm thiêng liêng ( trẻ con, nguời già đi ngủ sớm, bậc cha mẹ thì thay vì việc chuẩn bị bánh pháo sao cho khi đốt kêu to, giòn, họ phải giết thời gian bằng những việc nội trợ khác…)
Và như thế, khi cái thiêng của thời điểm giao thừa không còn nữa thì Tết chỉ còn lại cái tục mà thôi.
Thật đáng tiếc!

Hy vọng rằng, trong một thời gian không xa,tục đốt pháo sẽ đuợc Nhà Nước cho phục hồi lại và khi đó ngày Tết sẽ tưng bừng, sống động và thiêng liêng hơn: nguời ta không chỉ Ăn Tết mà thực sự là Kính và Vui Tết.

3.2.2 Xông nhà

Là một nghi thức cầu may của người Việt: chọn một người nào đó để anh ta bước vào nhà mình ngay sau giao thừa. Tuổi của người ấy phải tương sinh hoặc hợp với con giáp mà năm mới được định danh (theo nguyên lý âm dương ngũ hành) dĩ nhiên, người đến xông nhà phải nói những lời chúc tụng tốt đẹp nhất (phú, quý, thọ, an, khang) cho gia chủ.

3.2.3 Chọn hướng xuất hành


Cho đến ngày nay người Việt vẫn còn lưu giữ tục xuất hành theo hướng tương hợp tương sinh với tuổi của mình, với con giáp của năm mới. Người cẩn thận còn kén cả giờ xuất hành để cầu tài đón lộc.

3.2.4 Lễ chùa, đình, đền

Trên đường xuất hành, người ta ghé qua đình chùa hoặc đền miếu để lễ thánh hoặc lễ phật. Trước kia, lễ này cần phải có lễ vật hẳn hoi (xôi, gà, hoa quả) nhưng nay đã phần chỉ thắp nén hương và đốt chút tiền vàng để cầu xin sự che chở của Thánh, Phật

3.2.5 Hái lộc

Trên đường xuất hành người ta cố gắng đi qua chỗ nào đó có cây si, cây đa để bẻ một cành lá. Đây là tục hái lộc (xin lộc của trời Đất, Thánh, Phật). Cành lá ấy gọi là cành lộc – được mang về nhà cắm vào lọ cho đến hết tết. Tục này biểu trưng cho mong ước “đâm chồi, nảy lộc” (tức là phát triển) của dân ta.

3.3 Những tục lệ cổ truyền trong những ngày tết


3.3.1 Tục mừng tuổi

Với năm mới người ta thêm tuổi mới. Đó là một điều đáng mừng: đối với người già là tăng thêm tuổi thọ, đối với các em bé là thêm tuổi để thêm lớn. Bởi vậy, trong lễ chúc tết người ta có “lễ mừng tuổi”

Tiền mừng tuổi phong bao trong những giấy hồng, bao giờ cũng có tiền lẻ có ý là tiền dó sinh sôi nảy nở thêm nhiều. Tiền mừng tuổi còn gọi là “tiền mở hàng để lấy may”. Bạn bè gặp nhau cũng thường “mở hàng cho nhau để lấy may mắn”. Tiền mở hàng người ta thường giữ cất đi, ít khi lấy ra tiêu dùng trừ trường hợp bất đắt dĩ. Trong Nam, mừng tuổi các trẻ em gọi là lì xì. Ngày tết các chú, cô, dì, cậu… thường mừng tuổi cho các cháu và những khi tới nhà một người bạn chúc tết, có trẻ nhỏ người ta cũng thường mừng tuổi cho các em, hay khi một người bạn tới nhà mình chúc tết, có em nhỏ đi theo, chủ nhà thường mừng tuổi cho các em nhỏ, mừng tuổi để em hay ăn chóng lớn, học hành thông minh, sáng láng, khỏe mạnh và ngoan ngoãn.

3.3.2 Tục chúc tết


Ngày xưa người ta gọi là đi lễ tết: ngày tết người ta đi thăm nhau và cứ đến nhà nào người ta cũng làm lễ trước bàn thờ tổ tiên của nhà đó rồi mới chúc tụng cho nhau.
Đi tết, về thực chất là ứng xử nhằm củng cố những quan hệ của nhóm, cộng đồng: con cái lễ tết bố mẹ (rộng ra là họ hàng nội ngoại) học trò lễ tết thầy, cấp dưới lễ tết cấp trên, người hàm ơn lễ tết người đã ra ơn…

Nay đi tết vẫn là một phong tục rất được người Việt cả nông thôn lẫn thành thị ưa thích, đặc biệt là đối với lũ trẻ ở thành thị rất thích đi theo bố mẹ, vì đến đâu chúng cũng được chủ nhà lì xì một chút tiền mới.
Người ta quy ước: “mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”

3.3.3 Hạ nêu

Đã có trồng nêu thì cũng phải có lúc hạ nêu. Lễ hạ nêu người ta thường gọi là lễ khai hạ. Trong ngaỳ này nhà nào cũng làm một măm cỗ bàn để tạ ơn Phật đã giúp họ hưởng được những ngày tết vui vẻ.
Lễ này còn gọi là lễ hóa vàng: kết thúc những ngày tết, các gia đình tiễn đưa tổ tiên, đốt vàng mã để tổ tiên có tiền của mà dùng ở thế giới bên kia.

3.3.4 Giông và kiêng

Dân ta tin rằng: vào ngày đầu xuân nếu ai vô ý, vô tình để xảy ra một điều gì đó không hay (vỡ đổ vật, to tiếng, mất tiền…) thì người đó sẽ gặp sự không may trong suốt năm ấy. Vì thế, “người ta ttránh đi tất cả những cái gì có thể làm điềm gở đem lại sự không may mắn quanh năm, nghĩa lễ tránh để khỏi bị giông”.
Và để tránh giông một cách có ý thức dân ta đã có những điều kiêng trong ngày tết, nhất là ngày mồng một:
Kiêng quét nhà (tránh mất của)

Kiêng chửi mắng, đánh đập con cái (mong hòa thuận, êm ấm trong gia đình)
Kiêng không mặc đồ trắng (màu trắng liên tưởng đến tang ma)
Kiêng nói những câu có từ “chết chóc” (để tránh chết chóc, thương tật)

Nói tóm lại trong những ngày Tết Nguyên Đán có không biết bao nhiêu tục lệ hay cũng có mà dở cũng có, nhiều tục lệ ngày nay còn tồn tại nhưng cũng có một số bị biến mất, bãi bỏ vì không hộp thời. Tuy thế có nhiều tục lệ có thể xem như biểu trưng cho bản sắc của dân tộc nên cần được bảo tồn.


[center]III KẾT LUẬN[/center]

Mỗi độ xuân về chúng ta lại đón mừng một năm mới, một vận hội mới: xuân tưng bừng đến với vạn vật, cây cối được đâm chồi nảy lộc, trăm hoa đua nở, khoe sắc dưới ánh trời xuân, lòng người rộn rã vui tươi cầu chúc cho nhau những điều may mắn. Bao nhiêu những điều không may mắn không tốt đẹp đã lui trở lại với năm cũ để cho năm mới được tinh hảo, bình an, đem lại cho con người toàn những niềm hy vọng
Tết Nguyên Đán là Tết trọng đại nhất trong năm. Với tết này không những người ta thêm tuổi mà chính là một dịp để có sự đoàn tụ toàn thể gia đình sau một năm mỗi người mỗi ngã. Cũng là dịp để nhớ lại công đức tổ tiên đã tạo dựng nên cho mỗi gia đình. Tết Nguyên Đán đã, đang và sẽ là biểu thị chính yếu của văn hóa người Việt, tô đậm thêm bản sắc văn hóa người Việt.



Tài liệu tham khảo

1. Truơng Đình Tín, Phong tục Việt Nam (Quan – Hôn, Tang – Tế), NXB Đà Nẵng, 2001.
2. Viện văn hóa, Tết năm mới ở Việt Nam, NXB Văn Hóa Thông Tin, 1999.
3. Toan Anh, Tìm hiểu phong tục Việt Nam qua Lễ - Tết – Hội hè, NXB Thanh Niên, 2000.
4. Lê Trung Vũ ( cb), Tết cổ truyền của nguời Việt, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2003.
5. Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục, 1 – 2000.
6. Internet.
RANDOM_AVATAR
linhlantrang0211
 
Bài viết: 1
Ngày tham gia: Thứ 2 11/05/09 10:09
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến4 khách

cron