Đề cương chi tiết:Hiện tượng phụ nữ miền Tây lấy chồng ngoại

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Đề cương chi tiết:Hiện tượng phụ nữ miền Tây lấy chồng ngoại

Gửi bàigửi bởi Luucongminh » Thứ 2 25/05/09 23:15

Hiện tượng phụ nữ miền Tây lấy chồng ngoại

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Là người miền Nam, trực tiếp chứng kiến nhiều gia đình có con lấy chồng ngoại và có nhiều hiểu biết, theo dõi vấn đề này trên các phương tiện truyền thông đại chúng, trong các hội nghị, hội thảo, của các cơ quan thống kê, nghiên cứu ở trong và ngoài nước…

2. Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phân tích nguyên nhân của thực trạng lấy chồng ngoại dưới góc nhìn bản sắc văn hóa, văn hóa học. Tại sao hiện tượng này chỉ phổ biến ở Nam Bộ, nhất là miền Tây? Đó là do bối cảnh và tính cách, tâm lý con người chi phối.

3. Lịch sử vấn đề
Ngô Đức Thịnh có Văn hoá vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam; Trần Ngọc Thêm có Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam; Hội Khoa học Lịch sử có Nam Bộ - Đất và người; Nguyễn Công Bình có Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long; Phan Ngọc: Bản sắc văn hóa Việt Nam; Phan Ngọc: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới; Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới: Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan…

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là hiện tượng phụ nữ lấy chồng ngoại, thời gian nghiên cứu là hiện nay với chủ thể là người Việt, không gian nghiên cứu của nó là ở miền Tây Nam Bộ.

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Tôi tiếp cận từ góc độ văn hóa học. Ứng dụng các lý thuyết: tiến hóa luận, chức năng luận, cấu trúc luận…
Việc tìm hiểu hiện tượng này rất cần thiết. Đây là vấn đề có tính thời sự. Vì vậy nó có ý nghĩa thực tiễn.
Để xác định được các luận cứ khoa học và thực tiễn của chủ đề này, đòi hỏi chúng ta phải tiếp cận và phân tích vấn đề từ nhiều khía cạnh khác nhau.

6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Bài này em dùng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh.
Nguồn tư liệu: văn hóa học, xã hội học, nhân học, tâm lý học, vùng văn hóa, địa văn hóa…

I. Những vấn đề chung:
Trần Ngọc Thêm: “Có thể nói một cách vắn tắt rằng bản sắc dân tộc – đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của nó”. Ông quan niệm bản sắc văn hóa chính là văn hóa tinh thần. Trần Ngọc Thêm tiếp cận bản sắc văn hóa theo phương pháp hệ thống-loại hình, hệ thống-cấu trúc. Trong cuốn Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với thế giới cái thế giới thực tại ít nhiều đã được đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lực chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác với kiểu lực chọn của cá nhân hay tộc người khác”. Phan Ngọc cũng cho rằng tuy một cá nhân, một tộc người có vô số kiểu lựa chọn khác nhau nhưng nhìn kỹ sẽ có những yêu cầu, mục đích bất biến tạo thành bản sắc văn hóa, chứ không phải là những biểu hiện khác nhau của các kiểu lựa chọn. Bản sắc văn hóa mang đầy đủ các đặc trưng cơ bản của văn hóa nhưng không phải mọi biểu hiện của một nền văn hóa đều là bản sắc văn hóa. Chính vì vậy, có thể nói đến những biểu hiện tập trung, đến “chất lượng của một nền văn hóa trên các phương diện giá trị, biểu tượng… Trong các đặc trưng cơ bản, cần chú ý tới đặc trưng hệ thống. Bản sắc văn hóa bản thân nó cũng là một hệ thống. Mỗi nền văn hóa là một hệ thống. Bản sắc văn hóa bản thân nó cũng là một hệ thống, một cấu trúc. Bản sắc văn hóa cũng như văn hóa không phải là một vật mà là một kiểu quan hệ. Kiểu quan hệ kết hợp, chắp nối từ nhiều góc độ khác nhau nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kỳ diệu. Không có bản sắc chung chung mà nó thể hiện trên những bình diện cụ thể.
Bản sắc văn hóa dân tộc là sự tổng hợp và kết tinh những giá trị tinh thần mang tính bền vững, kế thừa và phát triển qua từng thế hệ nối tiếp của lịch sử. Mỗi dân tộc, mỗi xã hội đều có đời sống tinh thần riêng và chính đời sống tinh thần ấy làm nên sức mạnh của dân tộc. Khi giao lưu, những nền văn hóa đó phải đấu tranh, sàng lọc và phát triển nhưng không để mất đi bản sắc dân tộc. Chúng ta “hòa nhập” chứ không “hòa tan”.
Bản sắc văn hóa của một dân tộc là các giá trị tinh thần tồn tại tương đối lâu bền hơn cả trong truyền thống văn hóa của dân tộc ấy. “Tương đối lâu bền nghĩa là bản sắc văn hóa vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi nhưng rất chậm và khó khăn”.
Các giá trị đặc trưng của bản sắc văn hóa mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Do vậy, muốn nhận biết nó phải thông qua các sắc thái văn hóa với tư cách là sự biểu hiên của bản sắc văn hóa ấy. Nếu bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, bền vững, tiềm ẩn thì các sắc thái biểu hiện của nó tương đối bộc lộ cụ thể và khả biến hơn.
Không ít cá nhân thuộc các thành phần xã hội khác nhau đã xem giá trị kinh tế (tài sản vật chất) là chỉ báo khẳng định được uy tín xã hội của mình, sự giàu có về tiền của là thước đo duy nhất đánh giá toàn bộ sự phát triển của bản thân. Những yếu tố khác của văn hóa như đạo đức, văn hóa truyền thống, lối sống, tinh thần nhân văn, ý thức cộng đồng… được xem là “không kinh tế”, không có nhiều ý nghĩa trong quan hệ xã hội cũng như đời sống cá nhân. Trong những phạm vi nhất định, không ít cá nhân không còn khả năng ý thức được tài sản nội tại và các giá trị phát triển chung của cộng đồng, của dân tộc, nơi mình được sinh ra và lớn lên. Hơn thế, với mục tiêu đưa đất nước phát triển hiện đại về khoa học và công nghệ, trong tư duy của nhiều nhà quản lý ở nhiều quốc gia tại châu Á hay các vùng miền cụ thể ở từng quốc gia cũng đã xem nhẹ việc thực thi các chính sách phát triển văn hóa-xã hội…. Và như là quy luật, nhiều nước ở châu Á một mặt đã đạt được những thành tựu “thần kỳ” về kinh tế và khoa học kỹ thuật, nhưng mặt khác lại để nảy sinh tình trạng thất nghiệp, di cư tự phát, phân hóa giàu nghèo, sự “lệch chuẩn” về các giá trị văn hóa và đạo đức của nhiều nhóm dân cư,… với quy mô và tính chất hết sức phức tạp. Nhiều quốc gia đã trở thành nước công nghiệp, sản phẩm kinh tế có hàm lượng tri thức cao, nhưng lại phải chứng kiến hàng loạt những hành động, hành vi của cá nhân thuộc nhiều giới, nhiều nhóm xã hội phản ánh sự suy thoái về luân lý, đạo đức, khác xa với những giá trị được loài người vun đắp và kỳ vọng. Ở nhiều nhóm dân cư, “cái tôi tiền tài và công nghệ” đã lấn át “cái tôi đạo đức xã hội”, nhiều cá nhân thuộc các thành phần xã hội khác nhau, ở các nước khác nhau đã không xác định được ý nghĩa khi tiếp xúc với các giá trị văn hóa truyền thống, với tổ tiên… của mình, hay nói khác đi không ít người đã mất gốc. Tồn tại phổ biến tại nhiều thành thị ở nhiều quốc gia châu Á là tình trạng “một số thanh niên nghèo không gốc rễ và giàu không lý tưởng”.
Riêng với phụ nữ tại châu Á, lịch sử hình thành và phát triển ở từng quốc gia đã luôn ghi nhận được rất nhiều các giá trị văn hóa, nhân văn cao cả. Ở từng nước, hầu hết phụ nữ luôn là những cá nhân thể hiện và nuôi dưỡng được những đức tính, những phẩm chất đạo đức và giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong phạm vi cộng đồng, quốc gia, dân tộc của mình. Mặc khác, họ cũng có những đóng góp rất quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở hầu hết các quốc gia. Tuy nhiên, cũng thừa nhận rằng chính trong quá trình tăng trưởng kinh tế với những chính sách phát triển văn hóa xã hội chưa toàn diện và thực hiện không đồng đều ở phạm vi khu vực, quốc gia, vùng miền nên đã làm nảy sinh không ít những hệ quả xấu về mặt văn hóa, xã hội…, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên phụ nữ. Gần đây, mặc dù nhà nước ở nhiều quốc gia đã chủ động hoặc liên kết quốc tế để đẩy mạnh việc thực hiện các chính sách phát triển văn hóa xã hội một cách toàn diện trong mối quan hệ với các chính sách tăng trưởng kinh tế, khoa học kỹ thuật, nhưng rõ ràng sự chênh lệch về mức thu nhập, sự khác nhau về cơ hội và điều kiện tiếp cận-thụ hưởng các thành tựu mà nền kinh tế trong nước và khu vực tạo ra cũng hết sức nghiêm trọng.
Tính cách văn hóa người Việt Nam Bộ là sản phẩm tổng hợp của ba nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến với văn hóa phương Tây trong bối cảnh tự nhiên - xã hội Nam Bộ.
Tính cách truyền thống của văn hoá Việt Nam có năm đặc trưng chính: Thiên về âm tính; Ưa hài hòa; Tính tổng hợp; Tính cộng đồng; và Tính linh hoạt.
Bối cảnh tự nhiên - xã hội của Nam Bộ được tạo nên bởi bốn hằng số:

Hằng số 1: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện: gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung.

Hằng số 2: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế: Việt Nam với Đông Nam Á; Việt Nam với thế giới phương Tây; ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương.

Hằng số 3: Nam Bộ là nơi gặp gỡ của cư dân nhiều tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer...), đến từ khắp mọi miền đất nước (Bắc-Trung-Nam) và khu vực. Mức độ "tứ xứ" cao nhất nước: Anh về Bình Định thăm cha, Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em.

Hằng số 4: Văn hoá Nam Bộ là sản phẩm của quá trình dương tính hóa trong không gian và thời gian. Nó là khâu cuối cùng trong quá trình dương tính hóa trong không gian: từ Bắc qua Trung vào Nam. Nó cũng là khâu cuối cùng trong quá trình dương tính hóa trong thời gian: từ lớp văn hóa bản địa qua lớp văn hóa giao lưu với Trung Hoa đến lớp văn hoá giao lưu với phương Tây.
Tính cách văn hoá phương Tây ảnh hưởng tới Nam Bộ có: tính mở, thoáng; tính năng động; tính thực dụng.
Ba nhân tố này tạo thành một hệ toạ độ, trong đó hình thành nên hệ thống năm đặc trưng tính cách văn hoá Nam Bộ: tính sông nước, tính bao dung, tinh năng động, tính trọng nghĩa, tính thiết thực.

II. Thực trạng
Hơn 10 năm nay, hiện tượng phụ nữ (hay nữ thanh niên) chủ yếu sống ở nông thôn đồng bằng Sông Cửu Long ở Việt Nam kết hôn với người nước ngoài diễn ra có quy mô lớn và tính chất phức tạp. Có thể nói, phụ nữ Việt Nam hiện nay đã có mặt ở nhiều quốc gia, trong đó có rất nhiều người đã đến và định cư sinh sống thông qua con đường kết hôn (với đàn ông nước sở tại). Tuy nhiên, số lượng phụ nữ Việt Nam chọn kết hôn với đàn ông ở nước Đài Loan và Hàn Quốc chiếm tỷ lệ lớn nhất. Trước hết, những con số thống kê được về số lượng các cuộc kết hôn của phụ nữ Việt Nam trong vòng 10 năm qua đối với đàn ông ở Đài Loan và 5 năm qua với đàn ông Hàn Quốc sẽ phần nào cho thấy đây là một “sự kiện xã hội, văn hóa” lớn của Việt Nam nhưng có ý nghĩa xã hội và văn hóa mang tính toàn cầu.
Tại Đài Loan, hiện nay cộng đồng người Việt đã có hơn một trăm nghìn người sinh sống, trong đó số người (là nữ thanh niên) đến bằng con đường kết hôn chiếm hơn 70%. Chỉ tính từ năm 1995 đến cuối năm 2004, Việt Nam đã có khoảng 85.000 phụ nữ (nữ thanh niên) kết hôn với đàn ông (thanh niên, trung niên và người cao tuổi) Đài Loan. So với số lượng kết hôn năm 1998, từ năm 2000 đến nay tỷ lệ luôn tăng hơn 100%, cao nhất là năm 2002 (so với năm 1998) là 172%, với số lượng là 13.743 người đã kết hôn.
Theo số liệu khảo sát hiện đã có khoảng 90 ngàn cô dâu Việt tại Đài Loan- chiếm 70% cô dâu nước ngoài tại đây. Trung bình cứ 80 gia đình Đài Loan thì có 1 cô dâu Việt. Khoảng 15% số cô dâu Việt thất bại tại Đài Loan vì các nguyên nhân không đạt mục đích kinh tế, bị bạo hành, không phù hợp cách sống. Từ năm 2005 tới nay, số cô gái đăng ký kết hôn với người Đài Loan đã giảm chỉ bằng 1/4 so với những năm 2003, 2004. Nguyên nhân chính là do Đài Loan đã có những quy định mới về đăng ký kết hôn với người nước ngoài.
(Theo kết quả nghiên cứu và khảo sát của TS Phan An)
Từ năm 1995 trở về trước, Việt Nam là nước ở khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ nữ thanh niên kết hôn với đàn ông Đài Loan vào loại thấp nhất. Thế nhưng, trong 10 năm trở lại đây nước ta đã vươn lên vị trí cao nhất so với các nước trong khu vực về số lượng nữ thanh niên kết hôn với đàn ông Đài Loan.
Đáng lưu ý, gần đây tỷ lệ nữ thanh niên nước ta kết hôn với đàn ông Đài Loan giữa năm sau so với năm trước có giảm chút ít, nhưng lại tăng mạnh, cao hơn gấp ngàn lần (chỉ sau 5 năm) tại quốc gia Hàn Quốc. Những đơn vị môi giới và “cò” gọi đây là hiện tượng “sốt chồng Hàn Quốc”, y hệt “sốt chồng Đài Loan” kéo dài hơn 10 năm cách nay.
Xu hướng lấy chồng nước ngoài hiện nay đang chuyển dịch từ Đài Loan sang Hàn Quốc. Nguyên nhân là do tại Đài Loan đã có những quy định mới như giới hạn về độ tuổi, về sức khoẻ cũng như học vấn trong việc kết hôn với người nước ngoài.
Tại Hàn Quốc, tính tổng số lượng các cuộc kết hôn của nữ thanh niên Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc trong 5 năm (từ năm 2001 đến 2005) mà Cục thống kê Hàn Quốc thống kê được là 10279 trường hợp. Căn cứ vào số lượng thống kê này, trong 5 năm qua rõ ràng tỷ lệ gia tăng số lượng các cuộc kết hôn giữa năm sau so với năm trước là rất lớn. Cụ thể năm 2002 (so năm 2001) số đàn ông Hàn Quốc kết hôn với nữ thanh niên Việt Nam tăng hơn 355%; năm 2003 (so năm 2002) tăng hơn 294%; năm 2004 (so với 2003) tăng hơn 175%; năm 2005 (so với 2004) tăng hơn 236%. Nếu tính riêng năm 2005 so với số lượng năm 2001, số lượng các cuộc kết hôn giữa đàn ông Hàn Quốc với nữ thanh niên Việt Nam tăng hơn của năm 2005 so với năm 2001, tỷ lệ tăng chên lệch đến hơn 4344%.
Ngoài ra, cô dâu Việt hiện cũng được đánh giá cao nên đã có nhiều người nước ngoài tìm đến. Trong tương lai, đàn ông ở một số nước như Malaysia, Trung Quốc cũng sẽ lựa chọn cô dâu Việt để kết hôn.
Đáng lưu ý, nếu so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á như Philippines và Thái Lan… Việt Nam là nước có tỷ lệ nữ thanh niên kết hôn với đàn ông Hàn Quốc nhiều nhất và tăng nhanh nhất. Hơn nữa, đến nay vẫn chưa có dấu hiệu nào để cho thấy số lượng nữ thanh niên nước ta sẽ ít lấy chồng nước ngoài (nhất là đàn ông Hàn Quốc).
Theo ý kiến của Bà Nguyễn Thị Hoài Thu, Chủ nhiệm Ủy Ban các vấn đề xã hội của Quốc hội Việt Nam, trong báo cáo về “tình hình xuất khẩu lao động của Việt Nam” thì: “Người Việt Nam đi ra nước ngoài nói chung,… là đại diện cho tổ quốc mình, ít nhất không làm thầy thì cũng làm được thợ, chứ còn đi làm đầy tớ cho người ta thì tôi không mặn ma”. Hơn thế, đó cũng chính là sự kỳ vọng luôn có trong tâm khảm của bao người dân Việt Nam dành cho bất cứ ai đi xa tổ quốc mình vì bất cứ nguyên nhân nào.
Tuy nhiên, cũng khẳng định rằng, trong số hàng trăm nghìn nữ thanh niên của nước ta đã kết hôn với người nước ngoài, cũng có nhiều người (chưa đơn vị nào thống kê được) đã kết hôn mà “chưa (hoặc không) được làm vợ” khi xét cả về mặt pháp lý, về tình cảm cũng như các quyền và nghĩa vụ sau khi kết hôn. Đặc biệt, trong bối cảnh của sự va chạm giữa 2 đặc trưng của nền văn hóa của hai quốc gia khác nhau như ngôn ngữ, lối sống, sinh hoạt văn hóa, các chân giá trị của cuộc sống… tức là thì rõ ràng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam còn nhiều vấn đề phải quan tâm.
Trước hết, phải khẳng định rằng hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam là hiện tượng xã hội nảy sinh vừa mang tính khách quan của sự tăng trưởng kinh tế không đồng đều giữa các vùng miền trong phạm vi quốc gia và khu vực, đồng thời cũng phản ánh sự liên thông và kết nối văn hóa –xã hội giữa các nước láng giềng trong khu vực hiện nay là rất sâu sắc. Mặt khác, đây cũng là hiện tượng xã hội nảy sinh có tính chủ quan to lớn, phản ánh và khẳng định quá trình tự lựa chọn, tự quyết định cuộc sống tương lai của phụ nữ trong bối cảnh của nền kinh tế, xã hội mới.
Thứ hai, hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam cũng đang phản ánh tình trạng mất cân bằng về trình độ phát triển, vấn đề giới trong phát triển giữa các vùng miền trong phạm vi khu vực quốc gia và cả khu vực. Đây là vấn đề mang tính toàn cầu nảy sinh và tồn tại ở nhiều quốc gia phát triển hay đang phát triển kể từ đầu thế kỷ XIX mãi cho đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Thứ ba, không quá khắc khe để nói rằng, hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam cũng đang phản ánh những quan niệm mới về chân giá trị của cuộc sống, ở đó mức độ hưởng thụ vật chất đang chiếm ưu thế. Nhiều người đã coi nhân cách, các giá trị văn hóa truyền thống không phải là nhân tố có ảnh hưởng đến sự lựa chọn đời sống cá nhân của mình.
Thứ tư, hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam cũng đặt cho chúng phải coi lại những giá trị văn hóa của hôn nhân, của gia đình với nhân phẩm của người phụ nữ. Ở đây, chúng ta không nên hiểu rằng sự xúc phạm đến nhân phẩm của người chỉ là những bạo lực trong gia đình, sự cưỡng bức tình dục, mà còn là sự xô đẩy phụ nữ đến chỗ túng thiếu, thất nghiệp triền miên, bị chồng bỏ rơi, không có cơ hội để tiếp cận với thông tin, giáo dục, sinh hoạt văn hóa, thiếu những dịch vụ xã hội cơ bản,… Và theo Phó Giáo sư Lê Thị Nhâm Tuyết (chuyên gia nghiên cứu về Giới và nhân học xã hội ở Việt Nam) rằng “nếu phụ nữ ở bất cứ nước nào không được hỗ trợ và bênh vực để được hưởng đầy đủ các quyền (như sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sinh sản…) đã được cộng đồng quốc tế công nhận đều có thể xem là phẩm giá của họ chưa được bảo vệ đầy đủ” (1996).
Thứ năm, chúng ta biết rằng sự hiểu biết, giao lưu văn hóa của con người nói chung là hết sức quan trọng, nhưng chính sự khác nhau về kinh nghiệm sống, trình độ, mục đích sống, phương tiện,… luôn chi phối quan hệ này rất mạnh mẽ. Những người có ưu thế về mặt dân tộc hay đặc điểm trong phát triển kinh tế và những người không nằm trong phạm vi dân tộc, phạm vi quốc gia (như những người kết hôn xuyên quốc gia), thì sự giao lưu văn hóa hoàn toàn không có tính qua lại và bình đẳng, mà có tính ảnh hưởng hơn là tương tác. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng, hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam không phải là kết quả của sự giao lưu văn hóa, vì giao lưu văn hóa không đơn thuần chỉ là sự tiếp xúc ngẫu nhiên của các yếu tố nổi trên bề nổi, mà phải là quá trình lâu dài có chiều sâu. Giao lưu văn hóa giữa các dân tộc chỉ có ý nghĩa khi nó được thực hiện hai chiều và mỗi cá nhân khi trao đổi phải có bản sắc dân tộc riêng của mình.
Sự tồn tại của các công ty môi giới hôn nhân bất hợp pháp là một thực tế. Như báo chí đưa tin, đám cưới tổ chức xong, bên nhà trai đưa cho nhà gái 400 đô thì môi giới ăn chặn mất một nửa. Còn có 200 đô, nhà gái không đủ tiền trang trải chi phí và thuê xe trở về quê. Không những thế, họ còn “đem con bỏ chợ”. Cưới xong là hết trách nhiệm. Nhưng cũng cần phải nói thêm rằng, luật pháp của chúng ta có quá nhiều kẽ hở. Chính những kẻ hỡ này đã bị họ khai thác triệt để và kiếm tiền trên phẩm giá, sinh mạng của những cô gái ước ao lấy chồng ngoại để mong đổi đời…

III. Nguyên nhân
Có lẽ nguyên nhân chung được nhiều người thừa nhận rằng, phụ nữ Việt Nam kết hôn với đàn ông nước cũng giống như những người đi xuất khẩu lao động chính là do sự chênh lệch về đời sống kinh tế giữa vùng nông thôn Việt Nam với các nước khác như Đài Loan và Hàn Quốc. Việc số lượng nữ thanh niên kết hôn với đàn ông nước ngoài một cách tự nguyện (có hoặc không có mai mối) trong nhiều năm qua chủ yếu được ghi nhận là do động cơ kinh tế. Xét ở nhân tố kinh tế, rõ ràng trong những năm qua không phải cuộc kết hôn nào của phụ nữ Việt Nam với đàn ông nước ngoài đều có kết thúc tệ hại, nhiều người sau khi kết hôn đã được làm vợ và có được mức sống khá sung túc.
Miền Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi nhất nước, nhưng để từ đó suy ra rằng cuộc sống của người dân ở đây sung sướng nhất nước thì điều đó đã trở thành quá khứ. Đó là thời của văn hóa Nông nghiệp. Còn hiện nay, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì những ưu đãi của thiên nhiên không phải là tất cả.
Cũng phải nói thẳng rằng, trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp. Lý do đơn giản là trước kia họ luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại nên không thấy cần học hành cao, không cần đỗ đạt cao. Ở đây, những gia đình có con học lên đến cấp 3 (phổ thông trung học) là đã hài lòng lắm rồi. Số chịu khó vươn lên học tới đại học hoặc cao hơn thì rất ít. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống quen đơn giản, nên việc họ suy nghĩ đơn giản, ít đắn đo cân nhắc trước sau là chuyện dễ hiểu.
Trong khi đó, con cái đều có phẩm chất của văn hoá truyền thống Việt Nam là yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ. Thấy ba má nghèo, muốn giúp đỡ. Nhiều cô gái chọn cách lấy chồng ngoại để có tiền giúp bố mẹ, để bố mẹ mở mày mở mặt với chòm xóm. Ý định, mong muốn này của các cô gái khi thể hiện ra lại được bố mẹ chấp thuận dễ dàng. Bố mẹ và con cái gặp nhau ở cùng một kiểu suy nghĩ. Nhiều người như thế, nhiều gia đình như thế tạo nên một bối cảnh văn hoá hoàn toàn khác hẳn với miền Bắc và miền Trung, nơi mà con người bị bị tác động rất nhiều bởi dư luận xã hội, mà dư luận xã hội thì rất chặt chẽ, khắt khe.
Trong khi đó, những thông tin về mặt trái của hôn nhân với người nước ngoài qua các công ty môi giới bất hợp pháp lại khó đến được những nơi này. Họ ít đọc báo, nghe đài, vào mạng internet… Nếu có đọc báo, nghe đài, xem truyền hình thì cũng quan tâm nhiều đến những chương trình giải trí, tin tức... mà thôi. Những gia đình có gốc Nho giáo, có truyền thống giáo dục con cái kỹ lưỡng thì do số lượng ít nên không đủ tạo nên một luồng dư luận xã hội ảnh hưởng tới xung quanh.
Ngoài ra, sự khác biệt về văn hoá, lối sống cũng gây không ít khó khăn không chỉ cho các cô dâu Việt mà còn cho chính những gia đình có cô dâu người Việt.
Tóm lại, nghèo, trình độ văn hóa thấp cùng bối cảnh văn hóa vùng là những nguyên nhân sâu xa khiến cho con gái miền Tây lấy chồng ngoại.

IV. Giải pháp
Từ xa xưa, các dân tộc khác nhau sống tại các quốc gia ở châu Á vốn đã có quan niệm gần nhau, rất coi trọng các giá trị cộng đồng, giá trị xã hội truyền thống, giá trị văn hóa phương Đông. Vấn đề hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam trong vài thập kỷ gần đây có lẽ nên nhìn nhận từ bối cảnh ấy. Tuy nhiên, vai trò của các nhà quản lý xã hội, các nhà hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, khoa học có lẽ sẽ tiếp tục nghiên cứu, hợp tác sâu rộng với các quốc gia trong khu vực để dần thu hẹp được khoảng cách phát triển của các quốc gia. Nâng cao chỉ tiểu tăng trưởng kinh tế nhưng không làm xấu đi mối quan hệ giữa con người với con người, không gây ra hoặc làm tăng thêm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, chệnh lệch điều kiện về khả năng tiếp cận và tiêu dùng văn hóa của các nhóm dân cư thuộc các thanh phần khác nhau trong xã hội, giữa khu vực nông thôn và thành thị để hiện tượng hôn nhân không phải là những biểu hiện của một sự giao lưu văn hóa một cách hời hợt, bề nổi.
Thật sự là khó có thể quan tâm đến tất cả mọi người với số lượng đông như thế. Song cũng phải thừa nhận rằng các cơ quan chức năng, các tổ chức của người Việt ở các nước này chưa làm hết trách nhiệm của mình, chưa chủ động hợp tác với các cơ quan, tổ chức của nước sở tại để tìm cách hạn chế, khắc phục tình trạng môi giới hôn nhân bất hợp pháp và trở thành chỗ dựa tin cậy cho các cô dâu.
Sự thực là một bộ phận dân chúng có nhu cầu nên các công ty môi giới mới sống được. Việc gì xã hội có nhu cầu thì trách nhiệm của nhà nước là phải đáp ứng. Cái cần phải cấm chỉ là toàn bộ các trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp. Tất nhiên là phải quản lý thật chặt những người muốn lấy chồng ngoại quốc hoặc muốn lấy vợ Việt Nam. Họ phải hội đủ những điều kiện về sức khỏe, kinh tế và hiểu biết về người mà họ chuẩn bị kết hôn thì mới được phép chứ không để như hiện nay được…
Mặt khác, chúng ta cần xem xét lại hoạt động, vai trò, trách nhiệm của cơ quan phụ trách vấn đề này, tại sao lại có thể để những trung tâm môi giới hôn nhân bất hợp pháp có thể ngang nhiên hoạt động như thế?
Tôi chắc rằng phía chính phủ Hàn Quốc, Đài Loan... sẵn sàng hợp tác bởi đây là việc có lợi cho chính họ. Người có nhu cầu lấy vợ nước ngoài qua môi giới ở các nước này là những thanh niên ở nông thôn, nơi mà con gái đã đi hết ra thành phố. Vấn đề là ở phía bên ta hành động như thế nào.
Bên cạnh đó, cũng cần tăng cường các biên pháp giáo dục, tuyên truyền về lối sống, quan niệm, đạo đức, sĩ diện quốc gia… Tăng cường đưa những câu chuyện thực tế lên các phương tiện thông tin đại chúng, để người dân cũng bàn luận… Từ đấy, thay đổi dần quan điểm, nhận thức của họ. Trước khi kết hôn, các cơ quan môi giới cần có những lớp học để truyền đạt văn hóa, ngôn ngữ để hai bên hiểu biết về quan niệm, phong tục tập quán, lối sống của nhau, để tránh có những xung đột đáng tiếc.
Có rất nhiều con đường để thoát nghèo chứ không phải chỉ có cách lấy chồng ngoại. Ở những vùng kinh tế khó khăn, Nhà nước phải có nhiều chính sách hỗ trợ, giúp họ nâng cao đời sống, như thay đổi cơ cấu ngành, đầu tư cơ sở hạ tầng…
Nói tóm lại, việc cần làm là phải có pháp luật, quy định chặt chẽ với các hình thức chế tài đủ sức răn đe và các cơ quan chức năng cần quản lý để các công ty cũng như dân chúng thực hiện đúng theo pháp luật. Nếu vi phạm, cứ chiếu theo luật mà xử. Muốn thế, luật phải đáp ứng các tiêu chí: đầy đủ (bao quát hết), rộng khắp (để ai cũng biết) và thật sự nghiêm minh.
Vì thế, để không bị động trong việc quản lý thì ngay từ bây giờ, chúng ta phải có những biện pháp cụ thể nhằm quản lý được tình trạng môi giới hôn nhân cũng như có biện pháp giúp đỡ các cô dâu ở các nước sở tại.

PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại, đằng sau hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam đang nổi lên rất nhiều vấn đề rất cơ bản và cần phải quan tâm. Hiện tượng này rõ ràng không nằm ngoài những vấn đề mang tính toàn cầu như hố sâu ngăn cách về cơ hội và sự bất bình đẳng trong phát triển giữa các dân tộc, các nhóm dân cư trong phạm vi quốc gia và khu vực. Trong bối cảnh kinh tế – xã hội hiện nay, rõ ràng phải đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện những chính sách phát triển văn hóa-xã hội đã trở nên cấp bách. Chúng ta biết rằng, nhân tố kinh tế và nhân tố văn hóa không phải là hai yếu tố tách rời nhau trong quá trình phát triển - xã hội. Tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giáo dục con người, giáo dục đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân, ý thức về luật pháp, bài trừ các “dịch bệnh xã hội” ở tầm gần và xa. Dù ở hình thức nào, giao lưu văn hóa phải được từ động lực của các nhân tố văn hóa nội sinh, phát huy và gìn giữ những di sản văn hóa của dân tộc.
Đó là hiện tượng tất yếu trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá mà chúng ta khó có thể tránh được. Chúng ta cũng nhận thấy rằng hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam đang đặt ra những vấn đề mới về quá trình sự giao lưu, tiếp biến văn hóa và xây dựng bản sắc dân tộc theo xu hướng nào, hòa nhập hay hòa tan. Thật là sai lầm nếu như chúng ta coi khái niệm “không biên giới” (giữa các dân tộc, các quốc gia) trong giao lưu, tiếp biến văn hóa là xu hướng tích cực. Rõ ràng, thực tiễn đời sống từ hiện tượng hôn nhân xuyên quốc gia của phụ nữ Việt Nam tại các nước Đài Loan và Hàn Quốc đã nổi lên vấn đề hòa nhập hay xung đột giữa các yếu tố của hai nền văn hóa có bản sắc riêng, mang đậm tính địa phương là những câu hỏi nghiên cứu thú vị cho chúng ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội Khoa học Lịch sử 2004: Nam Bộ - Đất và người. – NXB Trẻ
2. Phan An, Phan Quang Thịnh, Nguyễn Quới 2005: Hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan. - NXB Trẻ
3. Phan Ngọc 1998: Bản sắc văn hóa Việt Nam. – NXB VHTT
4. Phan Ngọc 1998: Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới. – NXB VHTT
6. Nguyễn Công Bình 1990: Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long. – NXB KHXH
7. Trần Ngọc Thêm 2004: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. – NXB Tổng hợp TP HCM
8. Trung tâm nghiên cứu Việt Nam – Đông Nam Á 2000: Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á. – NXB Đại học Quốc gia TPHCM
9. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia 1996: Văn hóa trong phát triển và toàn cầu hóa. - NXB Hà Nội.
10. Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh 1982: Một số vấn đề khoa học xã hội về đồng bằng sông Cửu Long. - NXB KHXH, Hà Nội.
11. nld.com.vn
12. tuoitre.com.vn
13. thanhnien.com.vn
14. vanhoahoc.edu.vn
15. vietnamnet.vn
RANDOM_AVATAR
Luucongminh
 
Bài viết: 15
Ngày tham gia: Thứ 7 07/03/09 0:11
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Đề cương chi tiết:Hiện tượng phụ nữ miền Tây lấy chồng ngoại

Gửi bàigửi bởi tuat » Thứ 4 10/06/09 8:27

8O Bài của bạn cũng khá đầy đủ đấy nhưng còn thiếu lập bảng so sánh, thuật giải định nghĩa, sơ đồ định nghĩa...
RANDOM_AVATAR
tuat
 
Bài viết: 24
Ngày tham gia: Chủ nhật 30/12/07 16:29
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Đề cương chi tiết:Hiện tượng phụ nữ miền Tây lấy chồng n

Gửi bàigửi bởi Luucongminh » Thứ 6 16/07/10 22:46

M co post len nhung chac do loi nen chua dc. M se them trong thoi gian som nhat.
RANDOM_AVATAR
Luucongminh
 
Bài viết: 15
Ngày tham gia: Thứ 7 07/03/09 0:11
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách