NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ

Gửi bàigửi bởi gaconvtb » Thứ 6 15/05/09 19:46

[center]NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ[/center]
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nam Bộ là một trong hai vùng văn hóa khá tiêu biểu trong nền văn hóa Việt nam. Tìm hiểu về nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của người Nam Bộ sẽ giúp ta làm sáng tỏ được phần nào sắc thái văn hóa địa phương của nơi đây cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến những sắc thái đó.
2. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những yếu tố góp phần hình thành tính cách người Nam Bộ
So sánh nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của người Nam Bộ với người Bắc Bộ để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra kết luận.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của người Nam Bộ trong tổng thể văn hóa Việt Nam
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Cung cấp một cái nhìn tổng quan, chính xác và đầy đủ hơn về nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của người Nam Bộ. Qua tương quan so sánh với cư dân đồng bằng Bắc Bộ, góp phần làm nổi bật tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam.
Góp phần nâng cao kiến thức về văn hóa và góp thêm một số tư liệu cho sinh viên văn hóa học.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tổng hợp tài liệu: để nắm được nội dung, các lọai hình, đặc điểm của Quan họ nhằm có sự tổng kết đầy đủ và cính xác nhất để làm đề tài.
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích và chia thành từng chương phù hợp: từ sự tổng hợp, cái nhìn tổng quát đó sẽ có việc đi từng cái cụ thể, chia ý và đi sâu, làm rõ từng vấn đề cụ thể để dễ nghiên cứu và có hệ thống hơn đối với các tài liệu đã tìm được.
Phương pháp so sánh đối chiếu: Phương pháp này giúp nhận rõ sự khác nhau giữa nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của cư dân đồng bằng Nam Bộ trong tương quan so sánh với cư dân đồng bằng Bắc Bộ. Từ đó có thể thấy được nét văn hóa in đậm trong tâm thức người dân từng vùng.
Hướng tiếp cận tư liệu:
Qua các báo cáo khoa học, sách văn hóa Việt Nam, các trang web, diễn đàn về văn hóa, ngôn ngữ, phim ảnh…
6. Bố cục của đề tài
Phần mở đầu: gồm 6 phần (như trên)
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương I: Các yếu tố ảnh hưởng đến nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của cư dân đồng bằng Nam Bộ
Chương II: Các sắc thái trong nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của cư dân đồng bằng Nam Bộ
Chương III: Nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý của cư dân đồng bằng Nam Bộ trong tương quan so sánh với cư dân đồng bằng Bắc Bộ
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ
1. Về môi trường tự nhiên
Nam Bộ là vùng đồng bằng châư thổ trẻ mới được khai thác
Khí hậu nhiệt đới có hai mùa mưa và nắng nóng
Mật độ dân cư thấp
Chịu nhiều ảnh hưởng của biển và thủy triều
2. Về yếu tố lịch sử
Là vùng đất mới khai thác của người Việt trong quá trình Nam tiến
3. Về cư dân
Là nơi chung sống của người Việt với người Hoa, người Khơme và người Chăm nên quá trình giao lưu, hòa hợp về nhân chủng và văn hóa diễn ra phức tạp.
Nhiều nơi ở Nam Bộ mật độ dân cư còn thấp, đất rộng và trù phú
4. Về giao lưu với bên ngoài
Từ sớm đã là ngã ba của các luồng giao lưu với các nền văn hóa cổ Đông Nam Á.
Ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa sau đó là Pháp, Mỹ…
CHƯƠNG II: CÁC SẮC THÁI TRONG NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ
1. Về thích ứng với môi trường và khai thác tự nhiên
Về cơ bản là người nông dân canh tác nông nghiệp trồng lúa và hoa màu là chính.
Phương thức canh tác truyền thống là khai hoang, quảng canh là chính.
Người Nam Bộ ít đắp đê, làm thủy lợi mà chọn nơi thuận lợi để canh tác. Do vậy, họ mang nặng tính “hòa đồng”, sống hòa hợp, buông xuôi và phụ thuộc vào tự nhiên.
Là vùng sông nước điển hình của Việt Nam nên kênh rạch, thủy triều quy định nhịp điệu làm ăn, vui chơi của người dân nơi đây.
Phương tiện đi lại chủ yếu là ghe,thuyền. nhà ở đơn giản và thoáng.
Cư dân Nam Bộ mang đậm chất rừng và chất biển do đời sống kinh tế và tinh thần gắn liền với biển và rừng.
2. Về tâm lý sản xuất
Có xu hướng hướng ngoại, không nhất thiết “đóng khung” trong cái vỏ gia đình và làng xã.
Trong sản xuất, sản phẩm lúa trở thành hàng hóa.
Trong sản xuất kinh doanh, họ năng động và cởi mở,nhạy bén với thị trường.
Từ đó, người Nam Bộ dễ dàng tiếp thu ảnh hưởng bên ngoài, tiếp thu cái mới.
3. Về cơ cấu và quan hệ xã hội
Mở rộng khung ứng xử gia tộc ra ngoài xã hội
Cư dân Nam Bộ là người tứ xứ di cư vào đây theo từng gia đình, cá nhân và cư trú theo xóm ấp, làng xã nhưng sống rải rác theo đất canh tác của mỗi gia đình.
Làng ấp Nam Bộ thời gian đầu không có ruộng đất công mà chỉ có ruộng tư. Trong làng có đình làng thờ thành hoàng và hội họp, không có cổng làng ngăn tách giữa các làng.
Nhìn chung, ý thức cộng đồng của người Nam Bộ không mãnh mẽ và sâu sắc. họ ít chú ý tới quan hệ tôn ti, dòng tộc nhưng lại coi trọng quan hệ bạn bè.
4. Về đời sống vật chất
4.1. Ăn
Thiên về sự dư dật, phong phú, ít chú ý tới cái tinh vi trong cách nấu, cách bày, mỹ cảm trong ăn uống.
Khung cảnh của việc ăn uống là con người và quan hệ con người chứ không phải là thiên nhiên.
4.2. Mặc
Người Nam Bộ mặc áo bà ba màu den là chủ yếu, búi tóc sau gáy và quấn khăn rằn.
Áo dài cũng được cải tiến mang sắc thái riêng: xẻ tà cao, vạt áo ngắn, thích dùng vải hoa nhiều màu.
Họ sẵn sàng tiếp nhận cái mới, sự đa dạng, kiểu cách nơi thành thị nhưng vẫn giữ được sắc rhái riêng của mình.
4.3. Ở
Nhà của người Việt ở Nam Bộ thường là loại nhà có cấu trúc ba gian hai chái, nhà xây cất mang tính chất xơ xài, tạm bợ, làm bằng tre, nứa, phên vách và mái lợp bằng lá dừa.
Nhà cửa phù hợp với môi trường đồng bằng châu thổ sình lầy, hay ngập lụt, phù hợp với tâm lý của người dân Nam Bộ cổ truyền là ít quan tâm tới việc xây dựng, mua sắm mà chủ yếu dồn vào việc chi tiêu ăn uống.
4.4. Đi lại
Do hệ thống kênh rạch chằng chịt nên phương tiện đi lại chủ yếu là ghe, xuồng ba lá, thuyền. Điều này còn để lại nhiều dấu ấn trong ngôn ngữ của người dân nơi đây.
5. Về đời sống tinh thần
Ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, những khuôn phép đạo đức, thứ bậc tôn ti xã hội…
Không quá coi trọng việc học, sống cởi mở, chan hòa, ưa hành động hơn nghĩ ngợi.
Phương tiện giao tiếp được ua thích là nói và truyền miệng. Họ thích ca hát, nhất là cải lương, ca tuồng…
Do là miền đất mới và các tác động xã hội nên các hình thức tôn giáo tín ngưỡng rất phát triển ở Nam Bộ: Phật giáo, Kitô giáo, Hòa Hảo, Cao Đài,…
Các tôn giáo tín ngưỡng nơi đây là những tín ngưỡng dễ đi vào khía cạnh mê tín, dị đoan và nhạy cảm với các vấn đề đời sống chính trị, xã hội.
6. Về tính cách và tâm lý
Tính cách của người Nam Bộ bộc lộ rõ ràng. Họ chú ý nhiều đến cá nhân chứ không còn ý thức cộng đồng xã hội mãnh mẽ đặc trưng của văn hóa gốc nông nghiệp.
Có tính mạo hiểm, thích cuộc sống tự do tự tại, nay đây mai đó.
Xem trọng nghĩa khí, cư xử hào hiệp, coi khinh tiền tài.
Họ cư xử cởi mở và chan hòa, bộc trực và thẳng thắn, dễ kết thân, dễ hòa đồng vào xã hội mới, không sỹ diện kiểu kẻ sỹ, không coi trọng môn đăng hộ đối.
Họ thích kết thân bạn bè, chè chén xả láng, đam mê ca xướng.
Họ là những người sẵn sàng tiếp nhận và hướng về cái mới, nhạy cảm với cái mớitrong làm ăn và vui chơi giải trí.
CHƯƠNG III: NẾP NGHĨ, NẾP SỐNG VÀ TÂM LÝ CỦA CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ TRONG TƯƠNG QUAN SO SÁNH VỚI CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG BẰC BỘ
1. Những điểm tương đồng
Xét cho cùng, cư dân ở đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ đều là nông dân làm lúa nước, sống ở những đồng bằng châu thổ rộng lớn và màu mỡ. Nền văn hóa chính của họ là văn hóa gốc nông nghiệp.
Đều có cơ cấu xã hội chung là nhà – làng – nước.
Họ là những người thực tế trong thực hành tôn giáo tín ngưỡng, không đi vài giáo lý trừu tượng mà quan tâm nhiều tới sự linh ứng của thần linh trước những thỉnh cầu rất thực tế của con người.
2. Những sắc thái riêng
Làng Việt Nam Bộ được hình thành muộn hơn rất nhiều so với các làng Việt Bắc Bộ và Trung Bộ, cơ chế quản lý, điều kiện tự nhiên, dân cư cũng rất khác. Do đó, người Nam Bộ sống thoải mái, giao lưu với các vùng khác còn người Bắc Bộ sống khép kín hơn.
Về thích ứng với môi trường và khai thác tự nhiên
Trong khi người Nam Bộ gắn bó chặt chẽ với rừng và biển, đời sống đậm chất rừng chất biển, sống hòa hợp với thiên nhiên thì cư dân Bắc Bộ lại là những người thuần nông – xa rừng – nhạt biển. Họ làm nông nghiệp theo hướng thâm canh, đăp đê, lấn biển…, mong muốn chinh phục và chế ngự tự nhiên.
Về tâm lý sản xuất
Trái với Nam Bộ hướng ngoại, người nông dân đồng bằng Bắc Bộ có xu hướng hướng nội nhiều hơn trong sản xuầt cũng như quan hệ xã hội. Lúa sản xuất ra được giữ lại dùng cho gia đình là chính, họ sống co cụm trong một làng nhất định, sống khép kín và ít giao lưu với bên ngoài.
Về cơ cấu và quan hệ xã hội
Quan niệm về gia đình – làng xã của người Bắc Bộ rất sâu đậm chứ không coi trọng cá nhân như Nam Bộ. Nó chi phối làng xã theo các luật tập, chi phối nề nếp sinh hoạt cộng đồng. Làng ấp xây dựng trong khu vực nhất định, có cổng làng, cây đa, đình làng khẳng định tính tự trị một cách mạnh mẽ.
Về đời sống vật chất
Cư dân Bắc Bộ rất coi trọng hình thức cả trong việc ăn mặc và xây dựng nhà cửa. Họ cầu kỳ, làm việc một cách quy củ, chú trọng nghi thức, cái mỹ cảm và sự tinh vi trong ăn uống chứ không xuề xòa như người Nam Bộ.
Về đời sống tinh thần
Đối ngược với người Nam Bộ chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây, người Bắc Bộ chịu ảnh hưởng rõ rệt của Nho giáo,khuôn phép đạo đức,… Họ hiếu học và ưa sống nội tâm. Trong tôn giáo tín ngưỡng,họ “tín” chứ không “mê”…
Về tính cách và tâm lý
Người dân Bắc Bộ do hoàn cảnh lịch sử nên hình thành một tính cách tiêu biểu: cần cù và vượt khó. Họ có ý thức cộng đồng rất cao từ trong truyền thống. Họ sống nội tâm, suy tư ít bộc lộ, cái cá nhân bị đè nén trong gia đình, làng xã. Họ không cởi mở, chan hòa và bộc trực như người dân Nam Bộ.
Những sắc thái về nếp sống, nếp nghĩ, tâm lý của cư dân đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ càng làm rõ sự thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam.
KẾT LUẬN
Những sắc thái về nếp sống, nếp nghĩ, tâm lý này như là những đặc trưng văn hóa của cư dân đồng bằng Nam Bộ. Nó đã thể hiện khá rõ khả năng sáng tạo của họ trong quá trình khai hoang lập làng. Nhờ tính cách độc đáo đó, cư dân nam bộ đã tùy ý lựa chọn phương thức hoạt động kinh tế phù hợp với khả năng của mình, tạo nên một vùng văn hóa riêng biệt và đặc sắc của Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tổng hợp TP. HCM, 2006.
Ngô Đức Thịnh, văn hóa – văn hóa tộc người và văn hóa Vĩệt Nam, NXB Khoan học Xã hội, 2006.
Ngô Văn Lệ, Một số vấn đề về văn hóa tộc người ở Nam Bộ và Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia TP.HCM, 2003.
www.vanhoahoc.edu.vn
Hình đại diện của thành viên
gaconvtb
 
Bài viết: 8
Ngày tham gia: Thứ 4 27/02/08 19:06
Đến từ: đồng nai
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: NẾP SỐNG, NẾP NGHĨ VÀ TÂM LÝ CƯ DÂN ĐỒNG BẰNG NAM BỘ

Gửi bàigửi bởi gaconvtb » Thứ 4 03/06/09 19:32

mọi người.
Theo đề cương của em thì sẽ có một chương so sánh nếp sống, nếp nghĩ và tâm lý cư dân đồng bằng Nam bộ và đồng bằng Bắc bộ. Như vậy thì sẽ có những ý trùng lặp với phần trên. Còn nếu em so sánh song song 2 vùng thì đề tài sẽ phải mở rộng ra. Theo ý kiến riêng của em thì em muốn so sánh song song 2 vùng. Xin mọih người cho em một lời khuyên.
Chân thành cảm ơn thầy và các bạn.
Hình đại diện của thành viên
gaconvtb
 
Bài viết: 8
Ngày tham gia: Thứ 4 27/02/08 19:06
Đến từ: đồng nai
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến4 khách

cron