nho giáo Việt Nam

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

nho giáo Việt Nam

Gửi bàigửi bởi lethom » Thứ 3 14/07/09 19:04

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA : VĂN HOÁ HỌC









Đề Tài Nghiên Cứu khoa học:




NHO GIÁO VIỆT NAM







GVHD: Giáo Sư, viện sĩ. Trần Ngọc Thêm

Người thực hiện : Lê Thị Thơm


MSSV : 0741055








TPHCM, tháng 07, năm 2009

Mục Lục
Tài Liệu Tham Khảo : 3
Vũ Khiêu – Bàn về Văn Hiến Việt Nam, NXB TP HCM 3
GS.TS Lê Văn Quán - Nguồn văn hoá truyền thống Việt Nam,NXB Lao Động 3
Trần Ngọc Thêm – Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB giáo dục 3
Google.com.vn 3
1. Mở đầu 4
1.1 lý do chọn đề tài: 4
1.2 Mục đích : 4
1.3 ý nghĩa: 5
2. Nội dung: 5
2.1 Khái quát sự hình thành Nho giáo 5
2.2. Quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam 6
2.3.Nho giáo Việt Nam qua các triều đại 8
a.Đời Lý(1010-1225) 8
b.Đời Trần (1225-1400) 8
c.Đời Hồ(1400-1407), 8
c.Đời Hậu Lê(1428-1788) 9
d.Đời Tây Sơn(1788-1802) 10
e.Đời Nguyễn (1802-1945) 10
2 4. Thời hưng thịnh của Nho giáo Việt Nam 11
2.4.1 Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế 11
2.4.2. Nho giáo chiếm địa vị độc tôn 11
2.4.3 Ảnh hưởng của Nho giáo thời Lê sơ 12
2.5 Các tác phẩm triết học của Nho giáo Việt Nam 14
2.6 Đặc điểm Nho giáo Việt Nam 16
3.Kết luận 19
3.1. Di hại của Nho giáo 19
3.2. M ặt tích cực của Nho giáo 21




Tài Liệu Tham Khảo :
Vũ Khiêu – Bàn về Văn Hiến Việt Nam, NXB TP HCM
GS.TS Lê Văn Quán - Nguồn văn hoá truyền thống Việt Nam,NXB Lao Động
Trần Ngọc Thêm – Cơ sở Văn hoá Việt Nam, NXB giáo dục
Google.com.vn


1. Mở đầu
1.1 lý do chọn đề tài:
 Nho giáo được du nhập vào Việt Nam và suốt hai nghìn năm giư địa vị của hệ tư tưởng thống trị trong thượng tâng kiến trúc phong kiến. Nho giáo thục tế đã đóng góp một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam. Tác động của nho giáo đến tư tưởng và tâm lỳ dân tộc là một vấn đề phức tạp cần được nghiên cứu
 Hiện nay có nhiều ý kiến đánh giá vai trò của nho giáo ở Việt Nam .Có ý kiến quá đề cao nho giáo ,coi nho giáo đã có những đóng góp quyết định trong việc xây dựng những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt nam
 Ngược lại có người lại tuyệt đối hoá mặt tiêu cực của nho giáo ,coi Nho giáo không có đóng góp gì vào việc thúc đẩy lịch sử,phát triển xã hội ,và xây dựng những phẩm chất đạo đức anh hùng của dân tộc ta
 Việc nhiều người đưa ra những ý kiến khác nhau như vậy đứng trên lập trường của mỗi người chúng ta thì nhìn nhận Nho giáo như thế nào? Qua đề tài nghiên cứư nhỏ này có thể giúp mọi người nhìn nhận vấn đề này một cách đúng đắn hơn và đề tài này chắc chắn có nhiều thiếu sót nên rất cần ý kiến cùa mọi người đề hoàn chỉnh hơn nữa
1.2 Mục đích :
 Chúng ta đều biết học thuyết của Khổng Tử được xây dựng và phát triển theo yêu cầu của trật tự phong kiến.Tính chất phản động của nó là ở chỗ nó giáo dục con người toàn tâm phục vụ cho chế độ vương quyền, đối lập với những quyền lợi chính đáng của nhân dân,hạn chế sự tự do phát triển của mọi cá tính và tài năng.Trong xã hội hoàn toàn mới với những yêu cầu mới về tư tưởng và đạo đức. Cách mạng tư tưởng văn hoá của ta phải triệt để thanh toán những tư tưởng lạc hậu và phản động ấy trong đời sống tinh thần
 Qua nghiên cứu nho giáo Việt Nam ,chúng ta phải tìm trong toàn bộ hệ thống của Nho giáo những điểm còn phục vụ được sự nghiệp cách mạng của chúng ta, phục vụ cho việc thanh toán những tư tưởng phản động ở Nho giáo còn tồn tại đến ngày nay
1.3 ý nghĩa:
 Việc nghiên cứu Nho giáo giúp chúng ta tìm về cội nguồn văn hoá của dân tộc ta đã có từ trước. Đồng thời tìm hiểu những mặc tích cực của nho giáo để có thể phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nứơc và qua đó rút ra nhiều bài học để xây dựng nên những mẫu người có đạo đức có tài năng để xây dựng đất nước
2 Nội dung:
2.1 Khái quát sự hình thành Nho giáo
 Trong xã hội Trung Hoa cổ đại , “nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức,biết lễ nghi.Nho giáo là hệ thống giáo lí của các nhà nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả .Những cơ sở của nó được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán .Đến lượt mình Khổng Tử phát triển tư tưởng của Chu Công , hệ thống hoá lại và tích cực truyền bá .vì vậy ông được xem là người sáng lập Nho giáo
 Sau khi Khổng Tử mất,học trò tập hợp những lời dạy của thầy lại soạn ra cuốn luận ngữ.Học trò của ông là Tăng Sâm dựa vào lời thầy mà soạn sách Đại học dạy phép làm người quân tử, tiếp đó là Tử Tư viết ra Trung Dung nhằm phát triển tư tưởng của ông nội mình về cách sống dung hoà. Đến thời Chiến quốc, các học phái nổi lên như nấm và có Mạnh Kha thường gọi là Mạnh Tử là người bảo vệ luận điểm xuất sắc của Khổng Tử,và biên soạn thành sách Mạnh Tử. “Đại học”, “Trung dung”, “luận ngữ”, “Mạnh tử” về sau hợp lại thành Tứ Thư
Mạnh Tử khép lại giai đoạn quan trọng –giai đoạn hình thành Nho
giáo. Đó là Nhogiáo nguyên thuỷ nay được gọi là tư tưởng Khổng-Mạnh.

2.2. Quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam
 Sau khi xâm chiếm nước ta ,giai cấp phong kiến nước ngoài đã ra sức củng cố chế độ nô dịch của chúng,tạo ra những bước chuyển dịch lớn trên các lĩnh vực kinh tế ,chính trị,xã hội,tư tưởng
 Trên lĩnh vực văn hoá tư tưởng,nhà nước của bọn xâm lược đã du nhập và phát triển Nho giáo biến nó thành hệ tư tưởng chính thống và xiềng xích nô dịch của nhân dân
 Ngay từ thời Tây Hán “lễ giáo” Trung Quốc đã dần dần xâm nhập vào xã hội ta từ buổi đầu công nguyên với hai thái thú Tích Quan và Nhâm Diêm,quan lại Trung Quốc đã dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa ở Giao Chỉ,Cửu Chân.Các sách kinh điển của Nho giáo như Tứ thư,Ngũ kinh đã bắt đầu được giảng dạy cho con em một số tầng lớp trên của xã hội Việt Nam.Một số đỗ đạt được cử làm quan một số được đưa về Trung quốc để sử dụng
 Sau khi giành đựơc độc lập,giai cấp phong kiếnViệt Nam củng cố nền thống trị trên mọi lĩnh vực.giai cấp phong kiến Việt Nam tổ chức lại nền giáo dục,truyền bá cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo
 Chế độ phong kiến ngày được củng cố và phát triển.Nhà nước vẫn đạo tạo những người đắc lực và tích cực phục vụ cho nó.Phật giáo và Đạo giáo không thể đảm nhiệm được việc ấy.Chỉ Nho giáo với cả hệ thống tư tưởng tuyên truyền và cổ vũ cho việc tôn thờ nhà vua,mới có tác dụng tích cực bảo vệ chế độ phong kiến và tôn ti trật tự của nó.Vì thế các nhà vua dần phát triển Nho giáo
 Nho giáo ngày càng phát triển,tầng lớp nho sĩ ngày càng đông đảo, đại bộ phận tầng lớp quan lại trong triều đều xuất thân từ nho sĩ.Việc công kích phật giáo và đạo giáo càng phát triển mạnh
2.3.Nho giáo Việt Nam qua các triều đại
a.Đời Lý(1010-1225)
Nho học mới hưng phát.Vua Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu,làm tượng thờ Chu Công,Khổng Từ 72 tiên hiền(1070)
Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên tên là Tam truờng (1075),Lê văn Thịnh đậu thủ khoa:mở Quốc Tử Giám (1076), lập Hàn Lâm Viện(1086), tuyển Mạc Hiển Tích làm hàn lâm học sĩ danh nho thời Lý có Lý Đạo Thành,Trương bá Ngọc
b.Đời Trần (1225-1400)
Vua Trần Thái Tông mở khoa thi Thái học sinh (1232) khoa Tam giáo (1247) và mở khoa Tam khôi(1247) tuyển trạng nguyên,bảng nhãn, thám hoa.Khoa ấy, Lê Văn Hưu đổ bảng nhãn,là sử gia Việt Nam đầu tiên
Văn học đời Trần rất thịnh,nhờ khoa cử thúc đẩy.Danh nho có Mạc Đĩnh Chi,Nguyễn Trung Ngạn
c.Đời Hồ(1400-1407),Hậu Trần(1407-1413),Minh thuộc (1414-1427)
Lê Quý Ly thay nhà Trần lập nhà H,.nước loạn quân Minh xâm lăng,cướp sách vở đưa về Kim Lăng,những gì không đem được thì đốt.Nhà Minh đưa Tống Nho vào Việt Nam
c.Đời Hậu Lê(1428-1788)
Nho học rất được chú trọng , được tôn là quốc học.Khoa cử thúc đẩy,hình thành tầng lớp nho sĩ trí thức đông đảo.Kinh đô có Quóc tử Giám ,Thái học Viện.Vua Lê Thánh Tông chia nước làm 13 đạo,hầu hết các đạo ở đồng bằng đều lập trường công, ấn dịnh qui chế thi cử.Từ triều Lê người thi đậu rất vẻ vang :có lễ xướng danh,lễ vinh quy,lễ khắc tên tiến sĩ vào bia đá ở Văn Miếu







d.Đời Tây Sơn(1788-1802)
Sau khi đánh bại quân Thanh giữa năm kỷ dậu (1879),vua Quang trung lập Sùng chính viện ,cử La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp làm viện trưởng,với trọng trách chấn chỉnh lại nền Nho học Việt Nam
e.Đời Nguyễn (1802-1945)
Nền học thuật gắn liền khoa cử ngày càng suy.Thực dân Pháp xâm chiếm đất nước.Cái học theo phương Tây khởi sự chen vào.Nền Nho học cử nghiệp cổ truyền dần dần mai mọt ,chấm dứt năm 1915 ở miền Bắc và 1918 ở miền Trung

2 4. Thời hưng thịnh của Nho giáo Việt Nam
2.4.1 Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế
 Phật giáo và Đạo giáo truyền bá sang nước ta thường gắn liền với những hình thức mê tín ,những phương thuật để mê hoặc nhân dân .Và bọn xâm lược lập rất nhiều cơ quan truyền bá và phát triển hình thức mê tín ,tà thuật phù phép để đẩy nhân dân vào con đường mê muội,ngu tối thực tế mất nước và nô lệ
 Sang đầu thế kỉ XIV- XV xã hội xuất hiện khá đông những tầng lớp thuật sĩ , đạo sĩ và nhà chùa cũng thành nơi cho những kẻ lưu manh côn đồ trốn tránh lao động.Trước tình trạng xã hội tồi tệ ấy đã đề ra cho nhà nước phong kiến hạn chế bớt mê tín dị đoan
 Lê Lợi lên ngôi đã ra lệnh cấm “vu trùng tà đạo” và đặt lệ thi tăng nhân Sang Lê Thánh Tông phật giáo và đạo giáo bị hạn chế hơn nữa.Năm 1461 triều đình ra lệnh cấm các địa phương và các nhà quí tộc không được xây thêm những đạo quán mới, không được đúc chuông tạc tượng để thờ.Và từ đó phạt giáo và đạo giáo ngày càng giảm sút và chỉ giữ một vị trí thấp kém trong xã hội
2.4.2. Nho giáo chiếm địa vị độc tôn
 Từ đầu thế kỉ XV,nhất là khi nhà nước phong kiến của Lê Lợi thiết lập thì chế độ phong kiến Việt Nam đã đi vào giai đoạn phát triển cao nhất.Nho giáo bắt đầu chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc phong kiến .Hệ tư tưởng Nho giáo được quán triệt vào nhiều chủ trương chính sách của nhà nước phong kiến và có ảnh hưỏng sâu sắc trong mọi lĩnh vực văn hoá đương thời
 Trong xã hội phong kiến thế kỉ XV địa vị của tầng lớp nho sĩ được đề cao ( nhất sĩ nhì nông) làm rường cột của nhà nước phong kiến, làm nguồn bổ sung bộ máy quan liêu. Tầng lớp nho sĩ ấy được đề cử từ một chế độ giáo dục và thi cử lấy nho giáo làm cơ sở . Đề tài học tập và thi cử đều lấy trong Tứ thư, ngũ Kinh ,Tính Lý và Bắc sử mà Tứ thư và Ngũ Kinh thì dựa vào bản chú giải của Chu Hy.
 Năm 1483 Thánh Tông sai tu sữa và mở rộng thêm nhà Thái Học ,phía trước dựng Văn Miếu để thờ các vị tiên thánh, tiên hiền tiên nho
 Nhà nước thời Lê Sơ ra sức ổn định và củng cố các quan hệ phong kiến với những thứ bậc tôn ti chặt chẽ. Nhà vua có một quyền uy vô thượng . Nhà vua là “con trời “ cai quản cả muôn dân và thưởng phạt cả thần thánh
Nói chung Nho giáo thời Lê Sơ đã giữ một ví trí quan trọng chi phối tất cả các mặt trong đời sống xã hội lúc bấy giờ
2.4.3 Ảnh hưởng của Nho giáo thời Lê sơ
a. Giáo dục,khoa cử:
 Thời kì này giáo dục khoa cử phát triển trước hết do đường lối “ sùng nho” của các nhà vua thời kì này.Nhà Lê mở rộng việc học hành thi cử không phải để phổ biến nền văn hoá mà cốt mở rộng chế độ thi cử,tuyển lựa quan lại,củng cố chế độ quân chủ. Nhà nho nghèo cũng có con đi học không phải vì chuộng văn hoá mà chỉ đi học để ra làm quan,hưởng bổng lộc
 Thời Lê Sơ từ năm 1442, chế độ thi cử hoàn chỉnh,cứ ba năm có một kì thi hương và thi hội .Ví dụ thời Nhâm Ngọ (1462) ở một trấn Sôn Nam có khoảng 4000 thí sinh và gần một nghìn người lọt vào Tam trường và chọn 100 người trúng tuyển
 Thời Lê Thánh Tông (1442-1497) Thời kì thịnh đạt nhất của việc học việc thi. Năm 1475 cỏ 3200 người ứng thí. Trong vòng 38 năm có 501 tiến sĩ như vậy thời Lê Thánh Tông chiếm 1/5 tổng số tiến sĩ cả nước và 1/3 tổng số trạng nguyên
b. Văn học và Sử học
 Theo đà dòng văn học yêu nước thời Lý -Trần, được tiếp sức bởi cảm hứng qua những chiến công của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,nhiều tác phẩm văn thơ nói lên ý chí bất khuất và lòng tự hào về một quốc gia-dân tộc. Ngưyễn Trãi với Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô Đại cáo. Lê Thánh Tông vơí các bài thơ ca tụng các nhân vật lịch sử- văn hoá và các danh lam thắng cảnh đất nước
 Bên cạnh đó dòng văn học cung đình với nội dung hình thức thù phụng,thanh lệ cũng phát triển
c. Địa lý : Đáng kể là cuốn dư địa chí của Nguyễn Trãi và tập bản đồ hành chính quốc gia soạn dưới thời Lê Thánh Tông,thường gọi là Hồng Đức.Bản đồ vẽ chi tiết 13 thừa tuyên và các phủ huyện
d. Nghệ thuật
Nhìn chung khuynh hướng cung đình quan phương trong nghệ thuật thời Lê Sơ đã thắng thế, do ảnh hưởng của văn hoá Đông Á Nho giáo ,mang tính giáo điều công thức. Và nhà nước đã chấp nhận nhã nhạc như thứ nhạc chính thống được diễn tấu trong cung đình




2.5 Các tác phẩm triết học của Nho giáo Việt Nam

Văn tịch chí trong lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và tim hiểu kho sách Hán –Nôm của Trần Văn Giáp là hai trong những tài liệu quí hiếm, kể ra được một phần nào sách vở còn giữ lại hay còn ghi nhận được, nhờ đó cũng giúp đời sau có cái nhìn khái lược về tư tưởng triết học của nhà Nho Việt Nam đời trước.
 Tứ thư thuyết ước,mười quyển , Chu An đời Trân soạn ,nay không còn.Chu An tự Linh Triệt ,hiệu Tiều Ân ,thuỵ văn Trinh .tôn hiệu Khang Triết Tiên Sinh .người xóm Văn Thôn ,làng Quang Liệt ,huyên Thanh Trì [ngoại thành Hà Nội sau này]. Đậu thái học sinh, không ra làm quan ở nhà dạy học, nổi tiếng đạo đức, rất đông học trò
 Chu dịch quốc âm giải nghĩa, hai quyển , cũng gọi Chu dịch quốc âm ca [quyết] , Đặng Thái Phương , đời Hậu Lê soạn xong trước năm quý hợi (1743).Tác phẩm dùng thơ lục bát giải nghĩa từng hào(diễn ca)như quẻ Càn , hào sơ cửu Tiềm long vật dụng diễn ca là :
Sở cửu hào nghĩa tiềm long,Bé còn ở dưới mà dùng làm chi.
 (3)Tứ thư ngũ kinh toàn yếu, mười lăm quyển , Nguyễn Huy Oánh (1713-1798) đời Hậu Lê soạn .
 (4) Tính lý toản yếu , hai quyển, Nguyễn Huy Oánh soạn. Quyển này và quyển trên nhằm tóm tắt các sách Tứ thư , Ngũ kinh, Tính lý, tiện lợi cho Nho sinh chuẩn bị thi cử
 (5)Thánh mô hiền phạm lục, mười hai quyển,Lê quý Đôn (1726-1784) đời Hậu Lê soạn. Tác phẩm rất nhiều.Khi soạn Thánh mô hiền phạm ông trích lục nguyên văn những lời nói của thánh hiền, xếp loại, chia thành mười hai đề mục, ghi xuất xứ từng câu đã trích trong Dịch, Thi,Thư, Xuân thu tả truyện , lễ ký , đại học trung dung
 (6) Xuân thu quản kiến, mười hai quyển do Ngô Thời Nhiệm (1746-1803) đời Hậu Lê soạn. Trong xuân thu quản kiến, dưới mỗi sự việc chép trong kinh Xuân thu của Khổng Tử, soạn giả ghi rỏ lời chú thích, trích trong các sách Tả Truyện,Công Dương … rồi ghi thêm ý kiến và lời bàn của ông

2.6 Đặc điểm Nho giáo Việt Nam
Nho giaó vào Việt Nam do hoàn cảnh nên nó có những điểm khác biệt với Nho giáo Trung Hoa
 Trước hết là phạm trù Nhân Nghĩa. Trong ngũ luân ,nghĩa là trong năm quan hệ vua tôi, cha con ,vợ chồng,anh em, bè bạn ,cái quan hệ vua tôi đứng đầu ,vì thế nghĩa trung quân,tinh thần tuyệt đối tin tưởng và phục tùng nhà vua là nội dung trung tâm của học thuyết nhân nghĩa của Khổng Tử . Còn ở Việt Nam tình cảm vua tôi lành mạnh được xây dựng trên tinh thần yêu nước sâu sắc của nhân dân ta. Tình cảm ấy xa lạ với thái độ sợ hãi và tôn sùng một vị hoàng đế đựơc thần thành hoá và đối lập với nhân dân
 Trong quan hệ với vua ,nhân dân Việt nam vẫn duy trì nếp sống cổ truyền của công xã,duy trì những quan hệ bình đẳng ,dân chủ đối với công việc chung trong làng, bảo vệ những qui tắc tốt đẹp do mình đặt ra. Uy quyền của nhà vua nhiều lúc không phá vỡ những luật lệ ấy “ phép vua thua lệ làng” là như thế . Với tinh thần ấy nhân dân ta không thể thừa nhận được cái “ nhân nghĩa “ của Khổng Tử
 Về quan hệ cha con chồng vợ ,truyền thống của dân tộc ta cũng khác với đạo lí của Khổng Tử.Dân tộc ta từ lâu đời đã xây dựng những tình cảm sâu sắc và thuỷ chung giữa cha mẹ với con cái và trong tình nghĩa anh em,vợ chồng,bè bạn. Đó là những tình cảm lành mạnh và bình đẳng .Tình cảm ấy không giống với chữ hiếu mù quáng của Khổng Tử .Khổng Tử đòi hỏi một sụ phục tùng tuyệt đối của con cháu đối với cha ông và cha ông là mẫu mực của con cháu. Còn Việt Nam thì luôn hướng về trước,tin tưởng ở ngày mai “con hơn cha là nhà có phúc”.
 Trong Nho giáo tư tưởng khinh rẽ phụ nữ là nổi bật. Theo Khổng Tử phụ nữ là kẻ khó dạy nên ông buộc phụ nữ phải tam tòng tứ , đức địa vị đàn ông được đề cao. Nho giáo khuyến khích một thứ quan hệ bình đẳng là người vợ phải luôn kính trọng với người chống còn người chồng thì có quyền đánh vợ và bỏ vợ. Đối với dân tộc Việt Nam đánh giá đạo đức của người phụ nữ theo một tiêu chuẩn khác. Những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ là khí phách anh hùng trong dựng nước và giữ nước: “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Khác với lễ giáo phong kiến,quan hệ vợ chồng ở Việt Nam là quan hệ bình đẳng “thuận vợ thuận chồng tác biển đông cũng cạn”.
 Dưới ách thống trị hàng ngàn năm của chế độ phong kiến,lễ giáo phong kiến ngày một tác động vào đầu óc nhân dân vì thế địa vị của người phụ nữ cũng bị hạ thấp.Người phụ nữ cũng chịu nhiều đau khổ nên tình cảm lành mạnh của nhân dân thường lên án những bất công ấy.Hồ Xuân Hương có nhiều bài thơ nói về vấn đề này :
“Ví đây đổi phận làm trai được
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

Nho giáo ở Việt Nam vận dụng một cách sáng tạo và uyển chuyển nhiều khi trái ngược với nho giáo.Nho giáo trọng cha chứ không trọng mẹ và trọng nam chứ không trọng nữ còn Việt Nam thì trọng cả hai.
 Về thái độ đối với nghề buôn. Nho giáo trung Hoa khuyến khích làm giàu nếu nó khộng trái với lễ : “phú quí mà có thể cầu được thì dù làm kẻ câm roi đánh xe hầu người, ta cũnglàm” (luận ngữ).Làm giàu không chỉ nên mà cò là trách nhiệm của người cai trị:Mạnh Tử từng bàn đến các vấn đề trao đổi hàng hoá ,giá cả, chính sách thu thuế chợ …ông nói “người ta có hằng sản mới có hằng tâm”. Chính vì vậy mà ở trung Hoa ,nho giáo không hề cản trở nghề buôn phát triển
 Trong khi đó ở Việt Nam với văn hoá nông nghịêp đậm nét, với tính cộng động và tính tự trị ,lại có truyền thống khinh rẽ nghề buôn khiến cho nghề buôn trong lịch sử không phat triển .Và có đường lối trọng nông ức thương “truyền thống”này khiến cho Việt Nam nông nghiệp đã âm tính lại còn duy trì được sự ổn định lâu dài
 Nho giaó Việt Nam có những đặc điểm như vậy là vì nó được cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống của dân tộc.Nhưng sự biến đổi này cũng phải dựa trên cơ sở nhất định đó chính là nét tương đồng giữa Nho giáo Trung Hoa và Nho giáo Việt Nam. Những nét tương đồng đó không phải là ngẫu nhiên. Đó không phải là cái gì khác mà chính là những tinh hoa của văn hoá nông nghiệp phương Nam mà Nho giáo nguyên thuỷ đã tiếp thu
3.Kết luận
3.1. Di hại của Nho giáo
 Dưới sự áp bức của giai cấp phong kiến, chịu sự tác động lâu ngày của nền giáo dục thống trị, nhân dân ta không khỏi tiếp thu nhiều nhân tố tiêu cực của Nho giáo trong đời sống hàng ngày của mình
 Trong quan hệ nam nữ, nhân dân ta vốn có truyền thống lành mạnh “trai khôn tìm vợ , gái ngoan tìm chồng”. nhưng khi lễ giáo Khổng Tử ăn sâu vào đời sống thì “nam nữ thụ thụ bất thân”, thì người phụ nữ không có tự do trong luyến ái. Họ sẽ trở thành vật thể mua bán. Cuộc đời hạnh phúc của họ trở nên mỏng manh, may rủi: “thân em như hạt mưa sa, hạt vào đài cát, hạt ra ruộng cày”.
 Dân tộc ta vốn sống với những tình nghĩa thuỷ chung đối với ông bà cha mẹ, anh em hàng xóm. Dân tộc ta vui mừng trước những đứa trẻ mới chào đời.Và đau buồn thương tiếc trước những người đã mất. Nhưng khi lễ giáo Nho giáo ăn sâu vào đời sống thì ma chay, cưới xin, lễ tết trở thành những phong tục phiền phức làm hao tốn tiền của nhân dân
 Nho giáo củng cố ở nhân dân tư tưởng về tính vĩnh cửu của chế độ phong kiến. Các nhà Nho nghĩ rằng người ta sinh ra đã có vua cha ở trên đầu và bổn phận con người là phải trung với vua, hiếu với cha mẹ. Và nhân dân ta không quen sống dưới một đất nước không có vua cai trị. Họ sẵng sàng khởi nghĩa chống lại những ông vua bất tài, lập lên một vị vua mới và mơ ước rằng ông vua đó sẽ là một vị vua tốt để cai trị nhân dân
 Nho giáo giam con người vào một trật tự phong kiến chặt chẽ từ trên xuống dưới. Lễ giáo Nho giáo qui định thứ bậc cho các tầng lớp nhân dân. Hạn chế cả kích thước nhà cửa màu sắc, quần áo đối với tất cả các tầng lớp trong xã hội.
 Việc truyền bá Nho giáo và thông qua thi cử để tuyển lựa nhân tài vào bộ máy quan liêu là một thành tựu quan trọng của đất nước văn minh nên cũng là một thủ đoạn rất quan trọng để củng cố chế độ phong kiến. Những người thi đỗ là những người tiếp thu sâu sắc những tư tưởng thờ vua thờ cha. Và họ thi đỗ để ra làm quan, phục vụ đất nước. nhưng trong số đó có một số người gĩư được tư cách và phẩm chất trong sạch còn một số thì cũng trở nên độc đoán quan liêu, tìm cách vinh thân phì gia và đối lập với quần chúng.Và thái độ này được nho giáo khuyến khích đã trở thành hiện tượng khá phổ biến trong xã hội ta và kéo dài trong lịch sử
 Nho giáo gieo rắc vào trong đầu óc người ta tư tưởng kinh rẽ lao động chân tay.Cày cuốc là công việc của kẻ tiểu nhân,sỉ quân tử thanh cao hơn.Họ đọc sách và dạy người.Tư tưởng ấy khuyến khích người ta rời bỏ lao động khi đã có một địa vị nhỏ trong xã hội
Những tác hại trên đây của nho giáo cũng còn để lại nhiều tàn dư trong xã hội mới của chúng ta.Vì thế chúng ta có trách nhiệm triệt để thanh toán những tàn dư ấy. Trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lê Nin đánh giá đúng đắn vai trò của nho giáo cả mặt tiêu cực và những nhân tố tích cực của nó, phát huy hơn nữa truyền thống cao đẹp của dân tộc , góp phần rèn luyện phẩm chất của con người mới
3.2 M ặt tích cực của Nho giáo
 Nho giáo tuy có nhiều mặt tiêu cực chống đối lại nhân dân. Nhưng không phải lúc nào nho giáo cũng xấu xa và sai trái. Chúng ta cũng có thể từ những tư tưởng nho giáo mà vận dụng trong đời sống. Và điều này được thể hiện trong sự nghiệp làm cách mạng của Hồ Chí Minh. Chúng ta sẽ giữ lại những nhân tố hợp lí vốn phục vụ cho chế độ cũ thành những công cụ chống lại chế độ cũ và xây dựng chế độ mới
 Hồ Chí Minh là người vận dụng Nho giáo rất nhiều . Người đã sử dụng nhiều câu chữ của nho giáo ,nhiều kinh nghiệm giáo dục và tu dưỡng của nho giáo nhiều biện pháp động viên tinh thần và ý chí của Nho giáo để động viên nhân dân đứng lên chiến đấu giành lại độc lập tự do với khí phách kiên cường tinh thần mưu trí và sáng tạo
 Nho giáo luôn đặt vấn đề tu dưỡng đạo đức lên hàng đầu từ bậc Thiên Tử xuống tới hạng bình dân ,ai nấy điều phải tu thân làm gốc. Trong sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh cũng coi “đạo đức là gốc” đòi hỏi người cách mạng phải có bản lĩnh đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân
 Hồ Chí Minh đã sử dụng câu nói của Mạnh Tử “Dưỡng tâm mạc thiên ư quả dục” để động viên cán bộ có tinh thần chịu đựng gian khổ tránh được sự cám dỗ vật chất vượt qua mọi thử thách không nên ham muốn về vật chất
 Qua hai cuộc kháng chiến đầy gian lao thử thách có thể nói Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng khá nhiều những kinh nghiệm của Nho giáo trong việc giáo dục đạo đức và phát động tinh thần của nhân dân.Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac_Lê Nin người đã phân tích những khó khăn và thuận lợi của kháng chiến để động viên cổ vũ mọi người.Trong quá trình này những lời răn dạy rút ra từ nho giáo đã có đóng góp rất lớn
 Trong vấn đề phát triển kinh tế Nho giáo cũng từng nhấn mạnh sản xuất phải đi đôi với tiết kiệm như ngày nay chúng ta thường nói tiết kiệm là quốc sách thì Nho giáo cũng sớm đặt vấn đề “đạo lớn làm ra của cải là số người làm việc sinh lời ngày càng nhiều , số người tiêu phung phí ngày càng ít, số người làm ra của cải phải mau mắn siêng năng, những người tiêu dùng phải thư thả từ từ. Như vây của cải luôn luôn đủ” (Đại học, 10. Vì vậy ngày nay Đảng ta luôn đề ra phương châm “ sản xuất phải thực hành tiết kiệm”
 Ngày nay những tu tưởng của Khổng Tử nếu chúng ta biết khai thác và vận dụng hợp lí trong sự nghiệp đổi mới của đất nước thì chúng ta nhất định có thể đưa văn hoá vào kinh doanh. Và hướng kinh doanh không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà xây dựng một xã hội có văn hoá
 Ngoài lĩnh vực kinh tế thì vấn đề đạo đức cũng dược vận dụng rất nhiều từ trong Nho giáo. Xưa nay chưa có một học thuyết nào nói đầy đủ và sâu sắc về chữ hiếu như Nho giáo. Nho giáo xây dựng nên những mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình.Và mối quan hệ ấy dựa trên nền tảng là hai chữ Hiếu và Đễ. Nho giáo đặt vấn đề có được Hiếu Đễ thì có được các đức khác. Hiếu Đễ là cái gốc mà người quân tử phải nắm lấy vì cái gốc được vững tốt tự nhiên đạo lí tư đó mà sinh ra
 Người con có hiếu ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha mẹ. Đó là sự biết ơn, làm sao để cho cha mẹ được vui lòng không làm phiền đến cha mẹ, suốt đời hiếu thảo với cha mẹ. Nho giáo cho rằng “Làm cho cha mẹ được tôn trọng là bậc hiếu cao nhất,không làm nhục đến cha mẹ là bậc hiếu thư hai, có thể nuôi cha mẹ là bậc hiếu cuối cùng”.Và chữ hiếu của Nho giáo cũng được nhân dân ta học tập rất nhiều và luôn hướng con người phải biết kính trọng cha mẹ dù trong bất kì hoàn cảnh nào. Và trong xã hội ngày nay chúng ta cũng cần phải đề cao chữ hiếu để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn …
Nói chung Nho giáo Việt Nam hình thành và phát triển gắn liền với chế độ phong kiến.Và khi chế độ phong kiến suy tàn thì Nho giáo cũng biến mầt. Có thể nói Nho giáo là cái bóng của xã hội phong kiến nhưng không phải cái gì của phong kiến cũng xấu.Cho nên trong việc nhìn nhận đánh giá Nho giáo chúng ta cần có cái nhìn khách quan thì mới đánh giá đầy đủ về nó.Vì vậy Nho giáo trong thời đại ngày nay cần phải nghiên cứu rất nhiều để có thể tìm hiểu thêm về nền văn hoá dân tộc
RANDOM_AVATAR
lethom
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 5 27/03/08 14:48
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến3 khách

cron