Qua dàn ý chi tiết này, em định viết một bài hoàn chỉnh về tư duy lưỡng phân , em mong thầy cô, các anh chị và các bạn cho em ý kiến về dàn ý này với nhé!
[justify]Nguồn gốc, đặc điểm và vai trò của tư duy lưỡng phân trong tiến trình văn hóa Việt Nam[/justify]
Tài liệu tham khảo
1.Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh
2.Phạm Đức Lương-Trần Thị Thu Lương, Văn hóa Đông Nam Á, NXB Giáo dục: 2001
3.Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh: 2006
4.Trần Quốc Vượng (CB), Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo Dục:1999
5.Vũ Ngọc Khánh, Nghiên cứu văn hóa cổ truyền Việt Nam, NXB Giáo dục:2007
6.Vũ Ngọc Khánh-Phạm Minh Thảo, Từ diển Việt Nam văn hóa tín ngưỡng phong tục, NXB Văn hóa thông tin: 2005
Dàn ý chi tiết
I.Lí do chọn đề tài:
Mỗi quốc gia có một giá trị văn hóa và truyền thống khác nhau. Văn hóa Việt Nam cũng thế, nó không phải là bản sao của văn hóa Trung Hoa hay bất kì một quốc gia nào, bởi một phần những cơ sở hình thành nên nó mang tính chất “bản địa” một cách sâu sắc.
Hơn nữa, Việt Nam đang trên con đường hội nhập với khu vực và quốc tế, để gìn giữ và đưa đến với thế giới hình ảnh một nước Việt có lịch sử lâu đời cùng nền văn hóa mang bản sắc riêng, ta cần biết và hiểu những giá trị truyền thống mà ông cha đã xây dựng nên. Những giá trị này đã góp phần làm nên lớp văn hóa bản địa với nhiều thành tựu rực rỡ, tạo nền tảng cho văn hóa Việt Nam phát triển cùng với những yếu tố được tiếp thu chọn lọc từ Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây.
Mục đích, ý nghĩa: Bước đầu tìm hiểu về nguồn gốc và đặc điểm của tư duy lưỡng phân- một trong những tư duy của cư dân nông nghiệp lúa nước bản địa, từ đó nêu bật được vai trò của tư duy này trong lớp văn hóa bản địa Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam cũng như trong suốt tiến trình văn hóa Việt Nam.
II.Nội dung:
1.Nguồn gốc của tư duy lưỡng phân:
-Nhịp điệu sinh học của con người có nguồn gốc từ nhịp điệu của vũ trụ, nên có quan niệm “thiên nhân tương ứng”.
-Con người nhận ra mối quan hệ tương quan, đặp đổi lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng có tính chất đối lập như trời-đất, mặt trời-mặt trăng, nóng-lạnh, mưa-hạn, trai-gái …
oCuộc sống con người trải qua sự vận hành bất biến của ngày và đêm.
oSản xuất nông nghiệp rất cần sức người, mà sự sinh sản của con người là do hai yếu tố: cha và mẹ (nữ và nam), còn sự sinh sản của hoa màu thì do đất và trời (đất sinh trời dưỡng, đồng nhất với cha-mẹ).
oNgoài ra, các yếu tố tự nhiên khác luôn chi phối tới qua trình phát triển của cây lúa: úng-hạn, nắng-mưa, nước-lửa,…
oBản thân cây lúa cũng là một lọai thực vật đặc biệt: gốc ngâm mình trong nước lạnh và ngọn tắm trong nắng nóng, đến độ nảy bông thì chỉ phơi màu vào giờ Ngọ (giữa trưa) và giờ Tí (nửa đêm).
-Tư duy tổng hợp và biện chứng nguyên sơ tạo thành tư duy lưỡng hợp.
2. Đặc điểm của tư duy lưỡng phân:
-Đây là loại tư duy phân loại chia đôi đã tồn tại khá lâu và có ở nhiều vùng trên thế giới, đặc biệt là Đông Nam Á thời tiền sử.
-Những cặp có tính chất đối lập nhưng vẫn là hai mặt của một thể thống nhất, vừa dựa vào nhau vừa khu biệt lẫn nhau và chuyển dịch đối xứng, biến đổi liên tục theo một trật tư nhất định.
3.Vai trò của tư duy lưỡng phân trong tiến trình văn hóa Việt Nam:
-Tư duy lưỡng hợp ngày càng phát triển cùng với nền văn minh nông nghiệp lúa nước, bởi sự tác động qua lại của các yếu tố đối lập này ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống và sản xuất của con người.
-Tư duy này được thể hiện qua hoa văn trên trống đồng, các bức điêu khắc trên đá ở Sapa, biểu tượng trong lễ hội và các phong tục tập quán,…
oCác bức điêu khắc ở Sapa: mặt trời, trái đất đều tròn và quay ngược chiều nhau (trái đất quay ngược chiều kim đồng hồ-như trên mặt trống đồng) và từ tây sang đông, mặt trời quay theo chiều kim đồng hồ từ đông sang tây, trên trái đất có cây, ở giữa đất trời là con người, một nam một nữ-nam trên nữ dưới với bộ sinh thực khí rất to… thể hiện tư duy lưỡng hợp và mối quan hệ tổng hợp, thiên-địa-nhân.
oHình tượng con cóc trên mặt trống đồng: cóc mang trứng trên cạn (dương sinh), nhưng lại thành con ở dưới nước (âm thành)…
-Con người cùng vạn vật sinh sôi, phát triển, “Đực-Cái”, “Trời-Đất” được hình thành trong tư duy người xưa càng sâu sắc thì hình dung nên những “mẹ Cái”, “mẹ Đất”, “mẹ Lớn” càng thêm rõ. Nông nghiệp phát triển, những cộng đồng lien minh bộ tộc được hình thành, khái niệm “đất-nước” được định hướng và gắn chặt những “nữ thần Mẹ” với bộ tộc, quê hương, xứ sở.
-Dựa trên cơ sở tư duy lưỡng hợp và những kinh nghiệm quan sát của mình, cư dân ĐNA đã phân cắt không gian và thời gian theo cảm thức của họ để tổ chức một nền sản xuất nông nghiệp lúa nước phù hợp với môi trường nhiệt đới ẩm gió mùa trên địa hình rất đa dạng từ rừng núi xuống đồng bằng châu thổ và ra biển cả. Có thể nói phần lớn những quan sát và cảm nhận về vũ trụ được ghi lại và áp dụng trong các hệ lịch.
-Có hai giả thuyết về nguồn gốc của triết lý âm dương:
oSau này, người Trung Quốc đã tiếp thu tư duy lưỡng hợp sơ khai của tộc người Bách Việt và quy phạm hóa, điển chế hóa thành triết lý âm dương với những thuật toán cổ của dịch lý-nền tảng để xây dựng các quan điểm trong đó có thiên văn.
oTrên cơ sở xét tính âm dương của trời-cha và đất-mẹ, người Nam-Á đã tiến tới xét tính âm dương của những cặp đối lập trừu tượng hơn như: lạnh (âm)-nóng (dương), mùa đông-mùa hè, ban đêm-ban ngày,… Tuy nhiên, đây chưa phải là nội dung chính của triết lý âm dương, và triết lý âm dương không phải là triết lí của các cặp đối lập mà là bản chất tồn tại trong cặp đối lập ấy-trong âm có dương và trong dương có âm, âm cực sinh dương và dương cực sinh âm.
III.Kết luận:
Tư duy lưỡng phân (lưỡng hợp) đã đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng nên lớp văn hóa bản địa Đông Nam Á, cũng như Việt Nam, tạo nền tảng cho triết lý âm dương và là cơ sở cho sự phát triển văn hóa Việt trong tín ngưỡng, tôn giáo và phong tục, tập quán mang đậm bản sắc dân tộc.
