[justify]Bài tập 6: Chọn 1 khái niệm cơ bản trong đề tài: Địng nghĩa và trình bày theo 7 bước và lập sơ đồ định nghĩa. Khái niệm: Giao tiếp Bước 1: Tìm tất cả các định nghĩa hiện có
- Tác giả Phạm Vũ Dũng đã nêu: “Giao tiếp là quá trình trao đổi và tiếp xúc nhau giữa con người với bản thân, với gia đình, với xã hội, với thiên nhiên…trực tiếp hay gián tiếp thông qua các công cụ như tiếng nói, ngôn ngữ, hành vi, tâm lý…nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức, những hiểu biết trong lĩnh vực khác nhau của đời sống con người, của cộng đồng, nhóm xã hội và cá nhân con người”. [Phạm Vũ Dũng 1996: 12].
- Tác giả Nguyễn Quang thì lại có khái niệm về giao tiếp cụ thể hơn như sau: “Giao tiếp là quá trình chia sẻ và trao đổi thông tin giữa mọi người bằng cả ngôn từ và phi ngôn từ”. [Nguyễn Quang 2008: 38].
Bước 2: Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa[/justify]
[justify]

[/justify]
[justify]
Bước 3: Phân tích các định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa
Về hình thức: Đều là quá trình trao đổi thông tin. Tuy nhiên, khái niệm của Phạm Vũ Dũng là trao đổi và tiếp xúc, còn của Nguyễn Quang là chia sẻ và trao đổi. Như vậy, điểm chung giữa hai tác giả về khái niệm giao tiếp thì hình thức đều là trao đổi thông tin. Cần làm rõ: ngoài trao đổi thông tin thì giao tiếp còn bao gồm hình thức gì khác như tiếp xúc và chia sẻ chẳng hạn.
Về chủ thể: Tác giả Nguyễn Quang chỉ giới hạn giao tiếp giữa người với người.
Tác giả Phạm Vũ Dũng nêu chủ thể của giao tiếp gồm hai phần: Người - Người; Người - Tự nhiên.
Về phương tiện:
Tác giả Nguyễn Quang nêu phương tiện của giao tiếp gồm 2 thành phần đó là ngôn từ và phi ngôn từ. Về ngôn từ thì chúng ta có thể hiểu đó là lời nói; tuy nhiên, phần phi ngôn từ thì tác giả không nêu cụ thể. Do đó, người đọc có thể hiểu hoặc không hiểu, cũng có thể là hiểu sai về “phi ngôn từ” này.
Tác giả Phạm Vũ Dũng có sự liệt kê khá đẩy đủ các và chính xác khi tóm gọn trong hay cụm từ “trực tiếp” và “gián tiếp”. Ta có thể hiểu trực tiếp là trao đổi bằng ngôn từ, còn gián tiếp là không thông qua ngôn từ mà thông qua cử chỉ, hành vi, tâm lý…Tuy nhiên, cách diễn đạt của tác giả lại hơi dài dòng và gây khó hiểu.
Về mục đích: Tác giả Phạm Vũ Dũng có nêu lên mục đích của giao tiếp là nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức…Trong khi đó, tác giả Nguyễn Quang lại không nêu lên mục đích của giao tiếp là gì. Chúng ta phải làm rõ mục đích của giao tiếp.
Bước 4: Tìm tất cả các khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng:
Theo khái niệm của Wekipedia tiếng Việt thì “giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt một mục đích nào đó. Thông thường giao tiếp trải qua 3 trạng thái: 1. trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý; 2. hiểu biết lẫn nhau; 3. tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. [http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_ti%E1%BA%BFp].
Theo như khái niệm này thì giao tiếp cũng được xem là một quá trình trao đổi thông tin giữa người - người. Dù định nghĩa này không nói rõ mục đích của giáo tiếp là gì nhưng nó vẫn khẳng định giao tiếp là một hoạt động có mục đích của con người. Điểm khác biệt là khái niệm này nêu cụ thể từng bước của quá trình giao tiếp.
Bước 5: Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin
Bước 6: Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm định nghĩa với các khái niệm khác cùng bậc
1/ Là quá trình trao đổi thông tin (đã bao gồm cả sự tiếp xúc và chia sẻ)
2/ Chủ thể: giữa người với người (giới hạn trong phạm vi xã hội loài người)
3/ Phương tiện: hệ thống ngôn từ (hay ngôn ngữ) và hệ thống phi ngôn từ (hay phi ngôn ngữ) như hành vi, cử chỉ, thái độ…
4/ Mục đích: Hình thành các mối quan hệ xã hội, nâng cao tri thức.
Sản phẩm sơ bộ: Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa người với người thông qua hệ thống ngôn từ và phi ngôn từ như hành vi, cử chỉ, thái độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hình thành các mối quan hệ xã hội và nâng cao tri thức.[/justify]
Bước 7: Lập sơ đồ, kiểm tra lại việc đáp ứng các nhu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại
[justify]

[/justify]
[justify]Bỏ từ chỉ số đếm “một” trong “một quá trình” vì quá trình là danh từ không đếm được.
Phi ngôn từ và ngôn từ đã ngụ ý trực tiếp và gián tiếp, do đó không cần thiết giữa lại cụm từ “một cách trực tiếp và gián tiếp vì có thể gây dài dòng.
Sản phẩm cuối cùng là: Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa người với người thông qua hệ thống ngôn từ và phi ngôn từ như hành vi, cử chỉ, điệu bộ…nhằm hình thành các mối quan hệ và nâng cao tri thức.
Bài tập 7: chọn một cặp đối tượng và lập bảng so sánh
Cặp đối tượng: giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ
Bảng so sánh:[/justify]

[justify]
Bài tập 8: Chọn nội dung thích hợp trong đề tài để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
Bên cạnh tiền đề lý luận, thì tiền đề thực tiễn có tác động to lớn và trực tiếp trong việc hình thành văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản. Các tiền đề thực tiễn bao gồm:
Điều kiện địa lý tự nhiên:
Địa hình: Nhật Bản là một quốc đảo, bao xung quanh là biển với hơn 4000 đảo lớn nhỏ. Đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt.
Khí hậu: Do địa thế và lãnh thổ trải dài trên 25 độ vĩ tuyến, do đó khi hậu Nhật Bản rất phức tạp.
Tóm lại, thiên nhiên Nhật Bản hiền hòa như người bạn thân nhưng đôi khi lại hung dữ như một hung thần làm cho người Nhật phải hứng chịu nhiều thảm họa như núi lửa, động đất, sóng thần.
Nguồn gốc tộc người: Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc người và văn hóa.
Về nguồn gốc tộc người Nhật thì cho tới nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định. Có nguồn tài liệu cho rằng người Nhật Bản có nguồn gốc Mông Cổ, giống như người Triều Tiên và Trung Hoa. Có lẽ vào khoảng 10.000 năm về trước, sắc tộc gốc Mông Cổ này đã di cư tới Nhật Bản là nơi có sẵn tộc người Ainu, một loại thổ dân gốc Caucase. Ngày nay thổ dân Ainu chỉ còn vào khoảng 14.000 người, sinh sống trong các khu vực riêng biệt thuộc Hokkaido. Người Ainu đang chịu các số phận thiệt thòi giống như thổ dân da đỏ tại Bắc Mỹ. [Trịnh Duy Hóa 2004: 22].
Nhìn chung, tính cách của người Nhật là yêu lao động, yêu thiên nhiên, có khiếu thẩm mỹ, có tinh thần tự tôn dân tộc cao, có óc thực dụng, luôn tự hào với truyền thống của mình. Người Nhật rất kỷ luật, trung thành, tự giác. Trong cuộc sống thường ngày, người Nhật rất lịch sự, tiết kiệm, ham học hỏi, uy tín…
Tôn giáo
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản địa của người Nhật, đóng vai trò quan trọng trong đời sống Nhật. Đặc điểm nổi bật trong tôn giáo của Nhật Bản là sự pha trộn giữa Thần đạo và Phật giáo. Theo quan điểm của người Nhật xưa, chữ “thanh” có nghĩa là “thanh khiết”, trong sạch cả về thể xác lẫn tâm hồn. Chính đạo lý trên đã quy ước cách sống và sinh hoạt của người dân Nhật Bản. Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồng vời những miếu thờ gia thần, thần hộ mệng ở địa phương. Người Nhật rất tôn kính Thần đạo, tôn giáo này đã dạy người Nhật yêu thiên nhiên, yêu sự giản dị và trong sạch.
Khổng giáo bắt nguồn từ Trung Quốc qua con đường Triều Tiên vào Nhật Bản. Khái niệm “lễ” trong tư tưởng của đạo Khổng được thể hiện qua nguyên tắc và đạo lý trong xã hội. Đó là những nghi thức thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Người Nhật thông qua những nghi thức đó thể hiện sự tôn kính, lòng hiếu thảo của con cái đối với bậc sinh thành, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng hệ thống tôn ti, trật tự, thứ bậc và lòng trung thành đối với nhà cầm quyền.
Như vậy các tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội Nhật Bản có sự kết hợp, pha trộn giữa Thần, Phật và Khổng. Từ xa xưa, người Nhật luôn học tập các yếu tố nước ngoài, nhưng họ cũng luôn ý thức rất rõ việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc. Chính tinh thần Nho giáo, Phật giáo và Thần đạo đã ảnh hưởng quan trọng tới văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản.
Từ những tiền đề lý luận và thực tiễn nêu trên, những tri thức mới rút ra về đặc điểm giao tiếp của người Nhật Bản là:
Thích giao tiếp: Có thể nhận thấy rằng, Nhật Bản là nước đứng đầu trong công cuộc mở của giao thương với các nước phương Tây khi mà nhiều nước khác vẫn còn chiến lược “bế quan tỏa cảng” trong thời gian đó. Nếu một nước ngại giao tiếp thì Nhật Bản đã khó có thể làm được điều này, và trên thực tế việc mở cửa trao đổi với phương tây đã mang lại cho Nhật Bản nhiều cái lợi to lớn mà thấy rõ nhất là tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng. Đặc điểm thích giao tiếp này là đặc điểm chung của toàn xã hội Nhật Bản mà trong đó từng cá nhan rất coi trọng việc giao tiếp, học hỏi thêm kiến thức. Người Nhật có tinh thần công đồng cao do xuất thân từ xã hội nông nghiệp lúc nước nên họ coi trọng tinh thần đoàn kết vì cộng đồng. Biểu hiện trong giao tiếp là người Nhật có truyền thống thăm viếng nhau, mua quà tặng nhau…..
Sự điềm tĩnh trong giao tiếp
Sở dĩ người Nhật luôn giữ được thái độ điềm tĩnh, ngay cả trước những biến cố là do ảnh hưởng chất âm tính của văn hóa lúa nước, cộng với sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên không cho phép người Nhật lơ là, chủ quan ngay cả khi nền kinh tế của họ rất phát triển, mà họ hình thành cho mình tính cách điềm tĩnh đễ sẵn sang ứng phó với bất cứ tình thế nào xẩy ra. Cuộc sống tĩnh lặng đã giữ cho người Nhật thái độ điềm tĩnh, không biểu lộ vui buồn thái quá, không phóng túng buông thả, không quá chủ động, không quá nhiệt tình. Mặt khác, do ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo cũng quy định lối giao tiếp chừng mực của người Nhật. Trong giao tiếp hàng ngày, người Nhật thường ít sử dụng ngôn ngữ của cơ thể so với người phương Tây. Khi giao tiếp, người Nhật nói năng nhẹ nhàng không khua tay, múa chân nhiều như người phương Tây.
Kín đáo, ít cởi mở
Sự kín đáo trong giao tiếp còn biểu hiện ở chỗ người Nhật ít biểu lộ những cử chỉ và động tác thân thể khi giao tiếp, khi nói chuyện không hoa chân, múa tay, không có những cử chỉ như “đập vào mắt” người khác. Ngay cả cái bắt tay vì khi bắt tay khi giao tiếp cũng không phổ biến, và được coi là cử chỉ ngoại lai. Khi giao tiếp người Nhật không thích cử chỉ bắt tay vì nếu làm thế thì hai người khó tránh khỏi việc phải nhìn trực diện vào nhau, mà theo lễ nghi thì hành vì nhìn trực diện vào nhau khi giao tiếp bị coi là không đúng mực, không lịch sự điều mà người Nhật hết sức tránh. Người Nhật cho rằng chỉ vì có thiện cảm với nhau mà trong quan hệ giao tiếp đã suồng sã với những người khách lạ, ít quen biết thì đó là điều không bình thường mà phải thông qua nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện, lưu lại cùng nhau khi cảm thấy có sự lôi cuốn đối với nhau và hình thành sự tin cậy trong giao tiếp thì họ mới thổ lộ những vấn đề riêng tư, tâm trạng của mình. Khi giao tiếp thì người Nhật cũng thường có những cử chỉ đụng chạm vào cơ thể lẫn nhau để biểu thị tính chất tương giao về cảm xúc của mình đối với người đối thoại như khoác vai, khoác tay nhau.
Sự kín đáo trong giao tiếp của người Nhật có nguồn gốc lịch sử sâu xa từ đặc điểm nguồn gốc dân tộc, vị trí địa lý, đặc thù của nền sản xuất. Từ xưa người Nhật lúc nào cũng phải sẵn sàng đối phó với các cuộc xâm lăng, nội chiến giữa các thế lực phong kiến vì vậy, khi giao tiếp với người khác họ ít cởi mở vì họ luôn giữ thái độ đề phòng, tự vệ.
Phép lịch sự:
Trong giao tiếp truyền thống người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa..., hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
Nước Nhật ngày nay đã là một cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới tiến sát tới những tiến bộ nhất trong nền văn hoá nhân loại nhưng người Nhật vẫn chú ý gìn giữ các truyền thống tinh hoa quá khứ, di tích văn hoá cổ của mình, mong muốn giữ nguyên những đặc trưng giao tiếp truyền thống cũng như các hình thức văn hoá đã được thừa hưởng từ thế hệ trước. Nhờ vậy mà những sắc thái giao tiếp đó vẫn tồn tại ổn định lạ thường.
Ăn nói lịch sự là thuộc tính bất di bất dịch trong giao tiếp truyền thống của người Nhật. Vì người Nhật có ý thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm nhã khi giao tiếp. Ngay từ nhỏ người Nhật đã được giáo dục rằng “xử sao cho khéo kẻo người cười chê”.[/justify]