Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 3 05/04/11 19:42

Bài tập 1:

Xác định từ khóa
- Giao tiếp phi ngôn ngữ
- Người Nhật Bản

[justify]Cặp phạm trù đối lập là giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ

Kiểm tra tính tương hiện: Trong văn hóa giao tiếp của Nhật Bản luôn tồn tại hai dạng đó là giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ. Nếu như giao tiếp ngôn ngữ có chức năng chính là truyền đạt nội dung thông tin thì giao tiếp phi ngôn ngữ thể hiện nét văn hóa đặc trưng như phong tục, lễ nghi truyền thống của một quốc gia hay dân tộc. Giao tiếp phi ngôn ngữ còn có chức năng xác định mối quan hệ của những người tham gia quá trình giao tiếp.

Kiểm tra tính tương hóa: Khi sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp thì nó giúp cho việc truyền đạt thông tin một cách nhanh chóng, chính xác đến người nghe. Tuy nhiên, trong một số trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ không thể diễn đạt hết những thông điệp mà người nói muốn truyền tải tới người nghe. Khi đó, chỉ có giao tiếp phi ngôn ngữ mới có thể diễn tả hết những sắc thái giao tiếp một cách tế nhị, khéo léo. Và trong trường hợp giao tiếp với người không thể nói hay người khiếm thính thì giao tiếp ngôn ngữ không mang lại hiệu quả.

Giao tiếp phi ngôn ngữ giúp chúng ta hiểu sâu hơn trạng thái tình cảm của người mà chúng ta đang giao tiếp. Tuy nhiên nhiều khi giao tiếp phi ngôn ngữ thường truyền tải thông tin một cách không rõ ràng. Việc giao tiếp này thường tùy thuộc vào sự nhanh nhạy của người được giao tiếp và cũng phụ thuộc nhiều vào môi trường và hoàn cảnh giao tiếp cũng như mối quan hệ của những người đang giao tiếp với nhau. Hai người đã quen biết nhau một thời gian dài, cùng quan tâm về một vấn đề, cùng am hiểu về nó thì họ rất dẽ dàng hiểu ý của người kia dù không cần nói ra mà chỉ cần quan sát cử chỉ, hành động. Ngược lại, sẽ dễ gây nhầm lẫn nếu hai người mới gặp nhau lần đầu mà giao tiếp phi ngôn ngữ với nhau, khi đó rất dễ rơi vào trường hợp “ông hiểu gà, bà hiểu vịt” hay “râu ông này cắm cằm bà kia” mà tục ngữ dân gian Việt Nam thường hay đề cập tới.

Kiểm tra tính hướng hòa: Giao tiếp bằng ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ luôn có sự chuyển hóa lẫn nhau. Trong giao tiếp hàng ngày, chúng ta thường sử dụng cử chỉ, điệu bộ để giao tiếp thay cho lời nói nhiều đến nỗi không thể đếm hết và dường như chẳng ai trong chúng ta lại tập chung để ý đến những cử chỉ, điệu bộ này vì đơn giản mà nói nó đã đi vào giao tiếp của chúng ta một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn đến nỗi mà chúng ta dù muốn để ý cũng khó nhận ra. Do đó, chúng ta thường giao tiếp phi ngôn ngữ một cách vô thức vì nó ăn sâu vào tiềm thức và được chúng ta biểu hiện ra một cách hết sức tự nhiên và ngay cả những người tiếp nhận nó cũng tiếp nhận một cách tự nhiên, mà không xem nó là sự lạ lẫm. Đôi khi, những cử chỉ, điệu bộ đã hỗ trợ tích cực cho ngôn ngữ khi mà ngôn ngữ không thể diễn đạt chính xác những điều mà ta muốn nói. Khi ta nói thì những cử chỉ, điệu bộ của cơ thể sẽ phụ họa theo lời nói để giúp truyền đạt ý nghĩa của nó. Và những cử chỉ, điệu bộ này phải phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa thì việc giao tiếp phi ngôn ngữ mới có hiệu quả cao nhất.[/justify]

Bài tập 2:

Vận dụng PPDL để phân tích và lập cấu trúc cho đề tài đã chọn

Sơ đồ cấu trúc của đề tài:
Hình ảnh

Bài tập 3:

Định vị đối tượng: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Chủ thể: Giao tiếp phi ngôn ngữ
Không gian: Nhật Bản
Thời gian: Truyền thống và hiện đại

Đề cương chi tiết như sau:

DẪN NHẬP

1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đế
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
7. Bố cục của luận văn

CHƯƠNG 1: TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN

1. TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1. Giao tiếp phi ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm giao tiếp
1.1.2. Khái niệm giao tiếp phi ngôn ngữ
1.2. Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ
1.2.1. Khái niệm văn hóa giao tiếp
1.2.2. Khái niệm văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ

2. TIỀN ĐỀ THỰC TIỄN

2.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
2.2. Nguồn gốc tộc người
2.3. Tôn giáo

CHƯƠNG 2: GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI NHẬT

2.1. NGÔN NGỮ CƠ THỂ

2.1.1. Khái niệm ngôn ngữ cơ thể
2.1.2. Các loại ngôn ngữ cơ thể của người Nhật
2.1.2.1. Đầu và các bộ phận của đầu
2.1.2.2. Tay
2.1.2.3. Tư thế ngồi và chào

2.2. NGÔN NGỮ VẬT THỂ

2.2.1. Khái niệm ngôn ngữ vật thể
2.2.2. Các loại ngôn ngữ vật thể của người Nhật Bản
2.2.2.1. Trang phục
2.2.2.2. Quà tặng

CHƯƠNG III: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG VĂN HÓA GIAO TIẾP PHI NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN

3.1. Thích giao tiếp
3.2. Sự điềm tĩnh trong giao tiếp
3.3. Kín đáo, ít cởi mở trong giao tiếp
3.4. Chú trọng làm sao cho người đối diện cảm thấy dễ chịu
3.5. Tính lịch sự trong giáo tiếp

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO


Bài tập 4:

Hình ảnh
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 3 05/04/11 20:30

Chào các bạn. Đây là đề tài của mình. Mình rất mừng vì cuối cùng bài của mình cũng được post lên diễn đàn một cách hoàn chỉnh (vì mình vốn không giỏi về vi tính nên post được bài lên diễn đàn là cả một sự cố gắng đó các bạn). Đây là bài chính thức của mình. Hai bài trước do làm sai "kỹ thuật" nhưng không biết xóa làm sao, tìm mãi không thấy lệnh xóa ở đâu. Bạn nào biết thì giúp mình với. Sau 24h là không xóa được nữa. Cảm ơn các bạn.
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi thuytienk3 » Thứ 3 05/04/11 20:52

CĐ o của bạn nằm hoàn toàn trong tên đề tài là ko ổn rồi bạn ơi
Bạn lấy tiêu chí nào để chia thành các chương zậy, lúc đọc phần phân tích mình cứ nghĩ bạn sẽ chia theo truyền thống và hiện đại chứ.
BT 3 với BT 4 sao giống nhau zậy
Một vài ý kiến của mình thui.
Bạn làm được vậy là tốt rồi, mình giờ vẫn còn nhiều cái băn khoăn chưa hoàn tất nữa. Chúc bạn thành công với đề tài này ha
RANDOM_AVATAR
thuytienk3
 
Bài viết: 125
Ngày tham gia: Thứ 7 19/03/11 19:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi Metryoshka » Thứ 3 05/04/11 21:53

Bạn ơi, bổ sung thêm phần "xác định mâu thuẫn" ở bài tập 1 nữa bạn nhé! Chúc bạn thành công!
Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương!
RANDOM_AVATAR
Metryoshka
 
Bài viết: 36
Ngày tham gia: Thứ 4 30/03/11 15:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 4 06/04/11 18:10

Cảm ơn ý kiến đóng góp của các bạn. Trong các phần nội dung của bài mình luôn có sự tập trung cả hai yếu tố truyền thống và hiện đại. Riêng bài tập 3 và 4 nhìn nôi dung thì giống nhau nhưng cách thức chuyển lên diễn đàn thì khác nhau. Riêng bài tập 4 mình sẽ điều chỉnh theo kiểu Document map. Cảm ơn các bạn.
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 4 13/04/11 17:07

Bài tập 5: Lập bảng và lập mô hình giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 4 13/04/11 17:22

Bài tập 6: Phân tích khái niệm Văn Hóa

Các khái niệm về văn hóa:

[justify]Thuật ngữ văn hóa theo nhà ngôn ngữ học người Đức Wundơ bắt nguồn từ một tiếng Latin có nghĩa là “co lene” và sau đó chuyển thành “Cultura” với nghĩa là cầy cấy, vun trồng. Trong sự vận động của ngôn ngữ, “cultura” chuyển nghĩa từ trồng trọt cây cối sang trồng trọt tinh thần, trí tuệ gắn bó với con người dưới dạng thức mới, được biểu hiện trong một mô thức phức tạp hơn song lại hàm chứa một nội dung sâu sắc hơn so với nghĩa ban đầu của nó.

Quan niệm về văn hóa được E. B Tylor đề cập trong công trình “văn hóa nguyên thủy” (1871) trở thành định nghĩa đầu tiên về đối tượng nghiên cứu của văn hóa, theo ông “văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội”.

Tổng thư ký UNESCO F May – ơ cũng đưa ra quan niệm về văn hóa trong một bài việt của ông: “văn hóa là tổng thể sống động của các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của dân tộc”.

Khái niệm về văn hóa cũng được chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét một cách chân thực và cụ thể nhưng cũng hết sức khái quát như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức và pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.

Trên cơ sở của những khái niệm về văn hóa đó, Đảng ta đã nhận thức rõ tầm quan trọng của văn hóa đối với đời sống xã hội. Hôi nghị lần thứ 5 của ban chấp hành trung ương Đảng đã xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đầy sự phát triển kinh tế, xã hội”.

Giáo sư Trần Ngọc Thêm đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lao động và tương tác với tự nhiên”.[/justify]

Phân tích các khái niệm

Hình ảnh

Nhìn chung, các quan niệm về văn hóa đều thống nhất với nhau trên một bình diện đó là lao động, sáng tạo là cội nguồn của văn hóa. Cũng chính vì thế mà văn hóa đã đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân mình, làm cho con người trở thành những sinh vật mang tính nhân bản sâu sắc, có lý tính, có óc phê phán và khát vọng vươn tới cái đẹp.

Kết luận:
Văn hóa là một khái niệm bao trùm, có chứa cả giá trị vật chất và tinh thần. Văn hóa luôn mang tính lịch sử và tính dân tộc. hoạt động sáng tạo văn hóa vật chất và tinh thần của con người là nhằm hình thành nên các giá trị văn hóa.
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi vuthianh » Thứ 7 07/05/11 9:08

[justify]Bài tập 6: Chọn 1 khái niệm cơ bản trong đề tài: Địng nghĩa và trình bày theo 7 bước và lập sơ đồ định nghĩa. Khái niệm: Giao tiếp

Bước 1: Tìm tất cả các định nghĩa hiện có
- Tác giả Phạm Vũ Dũng đã nêu: “Giao tiếp là quá trình trao đổi và tiếp xúc nhau giữa con người với bản thân, với gia đình, với xã hội, với thiên nhiên…trực tiếp hay gián tiếp thông qua các công cụ như tiếng nói, ngôn ngữ, hành vi, tâm lý…nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức, những hiểu biết trong lĩnh vực khác nhau của đời sống con người, của cộng đồng, nhóm xã hội và cá nhân con người”. [Phạm Vũ Dũng 1996: 12].
- Tác giả Nguyễn Quang thì lại có khái niệm về giao tiếp cụ thể hơn như sau: “Giao tiếp là quá trình chia sẻ và trao đổi thông tin giữa mọi người bằng cả ngôn từ và phi ngôn từ”. [Nguyễn Quang 2008: 38].

Bước 2: Phân tích từng định nghĩa theo yêu cầu của định nghĩa[/justify]

[justify]Hình ảnh[/justify]

[justify]Bước 3: Phân tích các định nghĩa, xác định những nét chung có thể tiếp thu, những đặc trưng sai/thiếu cần bổ sung, sửa chữa
Về hình thức: Đều là quá trình trao đổi thông tin. Tuy nhiên, khái niệm của Phạm Vũ Dũng là trao đổi và tiếp xúc, còn của Nguyễn Quang là chia sẻ và trao đổi. Như vậy, điểm chung giữa hai tác giả về khái niệm giao tiếp thì hình thức đều là trao đổi thông tin. Cần làm rõ: ngoài trao đổi thông tin thì giao tiếp còn bao gồm hình thức gì khác như tiếp xúc và chia sẻ chẳng hạn.
Về chủ thể: Tác giả Nguyễn Quang chỉ giới hạn giao tiếp giữa người với người.
Tác giả Phạm Vũ Dũng nêu chủ thể của giao tiếp gồm hai phần: Người - Người; Người - Tự nhiên.
Về phương tiện:
Tác giả Nguyễn Quang nêu phương tiện của giao tiếp gồm 2 thành phần đó là ngôn từ và phi ngôn từ. Về ngôn từ thì chúng ta có thể hiểu đó là lời nói; tuy nhiên, phần phi ngôn từ thì tác giả không nêu cụ thể. Do đó, người đọc có thể hiểu hoặc không hiểu, cũng có thể là hiểu sai về “phi ngôn từ” này.
Tác giả Phạm Vũ Dũng có sự liệt kê khá đẩy đủ các và chính xác khi tóm gọn trong hay cụm từ “trực tiếp” và “gián tiếp”. Ta có thể hiểu trực tiếp là trao đổi bằng ngôn từ, còn gián tiếp là không thông qua ngôn từ mà thông qua cử chỉ, hành vi, tâm lý…Tuy nhiên, cách diễn đạt của tác giả lại hơi dài dòng và gây khó hiểu.
Về mục đích: Tác giả Phạm Vũ Dũng có nêu lên mục đích của giao tiếp là nhằm tạo nên những quan hệ, những tri thức…Trong khi đó, tác giả Nguyễn Quang lại không nêu lên mục đích của giao tiếp là gì. Chúng ta phải làm rõ mục đích của giao tiếp.

Bước 4: Tìm tất cả các khái niệm hiện hành, đối chiếu với kết quả, bổ sung các đặc trưng cùng nội dung cụ thể của chúng:
Theo khái niệm của Wekipedia tiếng Việt thì “giao tiếp là một quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt một mục đích nào đó. Thông thường giao tiếp trải qua 3 trạng thái: 1. trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý; 2. hiểu biết lẫn nhau; 3. tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. [http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_ti%E1%BA%BFp].
Theo như khái niệm này thì giao tiếp cũng được xem là một quá trình trao đổi thông tin giữa người - người. Dù định nghĩa này không nói rõ mục đích của giáo tiếp là gì nhưng nó vẫn khẳng định giao tiếp là một hoạt động có mục đích của con người. Điểm khác biệt là khái niệm này nêu cụ thể từng bước của quá trình giao tiếp.


Bước 5: Xác định đặc trưng giống (khái niệm rộng hơn cùng loại)
Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin

Bước 6: Xác định các đặc trưng loài (khu biệt khái niệm định nghĩa với các khái niệm khác cùng bậc
1/ Là quá trình trao đổi thông tin (đã bao gồm cả sự tiếp xúc và chia sẻ)
2/ Chủ thể: giữa người với người (giới hạn trong phạm vi xã hội loài người)
3/ Phương tiện: hệ thống ngôn từ (hay ngôn ngữ) và hệ thống phi ngôn từ (hay phi ngôn ngữ) như hành vi, cử chỉ, thái độ…
4/ Mục đích: Hình thành các mối quan hệ xã hội, nâng cao tri thức.
Sản phẩm sơ bộ: Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin giữa người với người thông qua hệ thống ngôn từ và phi ngôn từ như hành vi, cử chỉ, thái độ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm hình thành các mối quan hệ xã hội và nâng cao tri thức.[/justify]

Bước 7: Lập sơ đồ, kiểm tra lại việc đáp ứng các nhu cầu về hình thức và nội dung, chỉnh sửa lại

[justify]Hình ảnh[/justify]

[justify]Bỏ từ chỉ số đếm “một” trong “một quá trình” vì quá trình là danh từ không đếm được.
Phi ngôn từ và ngôn từ đã ngụ ý trực tiếp và gián tiếp, do đó không cần thiết giữa lại cụm từ “một cách trực tiếp và gián tiếp vì có thể gây dài dòng.
Sản phẩm cuối cùng là: Giao tiếp là quá trình trao đổi thông tin giữa người với người thông qua hệ thống ngôn từ và phi ngôn từ như hành vi, cử chỉ, điệu bộ…nhằm hình thành các mối quan hệ và nâng cao tri thức.

Bài tập 7: chọn một cặp đối tượng và lập bảng so sánh
Cặp đối tượng: giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp phi ngôn ngữ
Bảng so sánh:[/justify]
Hình ảnh

[justify]Bài tập 8: Chọn nội dung thích hợp trong đề tài để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện những tri thức mới.
Bên cạnh tiền đề lý luận, thì tiền đề thực tiễn có tác động to lớn và trực tiếp trong việc hình thành văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản. Các tiền đề thực tiễn bao gồm:
Điều kiện địa lý tự nhiên:
Địa hình: Nhật Bản là một quốc đảo, bao xung quanh là biển với hơn 4000 đảo lớn nhỏ. Đồng bằng nhỏ hẹp và bị chia cắt.
Khí hậu: Do địa thế và lãnh thổ trải dài trên 25 độ vĩ tuyến, do đó khi hậu Nhật Bản rất phức tạp.

Tóm lại, thiên nhiên Nhật Bản hiền hòa như người bạn thân nhưng đôi khi lại hung dữ như một hung thần làm cho người Nhật phải hứng chịu nhiều thảm họa như núi lửa, động đất, sóng thần.
Nguồn gốc tộc người: Nhật Bản là quốc gia có tính đồng nhất về sắc người và văn hóa.
Về nguồn gốc tộc người Nhật thì cho tới nay vẫn chưa có tài liệu nào khẳng định. Có nguồn tài liệu cho rằng người Nhật Bản có nguồn gốc Mông Cổ, giống như người Triều Tiên và Trung Hoa. Có lẽ vào khoảng 10.000 năm về trước, sắc tộc gốc Mông Cổ này đã di cư tới Nhật Bản là nơi có sẵn tộc người Ainu, một loại thổ dân gốc Caucase. Ngày nay thổ dân Ainu chỉ còn vào khoảng 14.000 người, sinh sống trong các khu vực riêng biệt thuộc Hokkaido. Người Ainu đang chịu các số phận thiệt thòi giống như thổ dân da đỏ tại Bắc Mỹ. [Trịnh Duy Hóa 2004: 22].

Nhìn chung, tính cách của người Nhật là yêu lao động, yêu thiên nhiên, có khiếu thẩm mỹ, có tinh thần tự tôn dân tộc cao, có óc thực dụng, luôn tự hào với truyền thống của mình. Người Nhật rất kỷ luật, trung thành, tự giác. Trong cuộc sống thường ngày, người Nhật rất lịch sự, tiết kiệm, ham học hỏi, uy tín…
Tôn giáo
Thần đạo (Shinto) là tôn giáo bản địa của người Nhật, đóng vai trò quan trọng trong đời sống Nhật. Đặc điểm nổi bật trong tôn giáo của Nhật Bản là sự pha trộn giữa Thần đạo và Phật giáo. Theo quan điểm của người Nhật xưa, chữ “thanh” có nghĩa là “thanh khiết”, trong sạch cả về thể xác lẫn tâm hồn. Chính đạo lý trên đã quy ước cách sống và sinh hoạt của người dân Nhật Bản. Thần đạo phát triển thành tôn giáo của cộng đồng vời những miếu thờ gia thần, thần hộ mệng ở địa phương. Người Nhật rất tôn kính Thần đạo, tôn giáo này đã dạy người Nhật yêu thiên nhiên, yêu sự giản dị và trong sạch.
Khổng giáo bắt nguồn từ Trung Quốc qua con đường Triều Tiên vào Nhật Bản. Khái niệm “lễ” trong tư tưởng của đạo Khổng được thể hiện qua nguyên tắc và đạo lý trong xã hội. Đó là những nghi thức thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Người Nhật thông qua những nghi thức đó thể hiện sự tôn kính, lòng hiếu thảo của con cái đối với bậc sinh thành, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng hệ thống tôn ti, trật tự, thứ bậc và lòng trung thành đối với nhà cầm quyền.

Như vậy các tín ngưỡng tôn giáo trong xã hội Nhật Bản có sự kết hợp, pha trộn giữa Thần, Phật và Khổng. Từ xa xưa, người Nhật luôn học tập các yếu tố nước ngoài, nhưng họ cũng luôn ý thức rất rõ việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc. Chính tinh thần Nho giáo, Phật giáo và Thần đạo đã ảnh hưởng quan trọng tới văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản.

Từ những tiền đề lý luận và thực tiễn nêu trên, những tri thức mới rút ra về đặc điểm giao tiếp của người Nhật Bản là:
Thích giao tiếp: Có thể nhận thấy rằng, Nhật Bản là nước đứng đầu trong công cuộc mở của giao thương với các nước phương Tây khi mà nhiều nước khác vẫn còn chiến lược “bế quan tỏa cảng” trong thời gian đó. Nếu một nước ngại giao tiếp thì Nhật Bản đã khó có thể làm được điều này, và trên thực tế việc mở cửa trao đổi với phương tây đã mang lại cho Nhật Bản nhiều cái lợi to lớn mà thấy rõ nhất là tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng. Đặc điểm thích giao tiếp này là đặc điểm chung của toàn xã hội Nhật Bản mà trong đó từng cá nhan rất coi trọng việc giao tiếp, học hỏi thêm kiến thức. Người Nhật có tinh thần công đồng cao do xuất thân từ xã hội nông nghiệp lúc nước nên họ coi trọng tinh thần đoàn kết vì cộng đồng. Biểu hiện trong giao tiếp là người Nhật có truyền thống thăm viếng nhau, mua quà tặng nhau…..

Sự điềm tĩnh trong giao tiếp
Sở dĩ người Nhật luôn giữ được thái độ điềm tĩnh, ngay cả trước những biến cố là do ảnh hưởng chất âm tính của văn hóa lúa nước, cộng với sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên không cho phép người Nhật lơ là, chủ quan ngay cả khi nền kinh tế của họ rất phát triển, mà họ hình thành cho mình tính cách điềm tĩnh đễ sẵn sang ứng phó với bất cứ tình thế nào xẩy ra. Cuộc sống tĩnh lặng đã giữ cho người Nhật thái độ điềm tĩnh, không biểu lộ vui buồn thái quá, không phóng túng buông thả, không quá chủ động, không quá nhiệt tình. Mặt khác, do ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo cũng quy định lối giao tiếp chừng mực của người Nhật. Trong giao tiếp hàng ngày, người Nhật thường ít sử dụng ngôn ngữ của cơ thể so với người phương Tây. Khi giao tiếp, người Nhật nói năng nhẹ nhàng không khua tay, múa chân nhiều như người phương Tây.

Kín đáo, ít cởi mở
Sự kín đáo trong giao tiếp còn biểu hiện ở chỗ người Nhật ít biểu lộ những cử chỉ và động tác thân thể khi giao tiếp, khi nói chuyện không hoa chân, múa tay, không có những cử chỉ như “đập vào mắt” người khác. Ngay cả cái bắt tay vì khi bắt tay khi giao tiếp cũng không phổ biến, và được coi là cử chỉ ngoại lai. Khi giao tiếp người Nhật không thích cử chỉ bắt tay vì nếu làm thế thì hai người khó tránh khỏi việc phải nhìn trực diện vào nhau, mà theo lễ nghi thì hành vì nhìn trực diện vào nhau khi giao tiếp bị coi là không đúng mực, không lịch sự điều mà người Nhật hết sức tránh. Người Nhật cho rằng chỉ vì có thiện cảm với nhau mà trong quan hệ giao tiếp đã suồng sã với những người khách lạ, ít quen biết thì đó là điều không bình thường mà phải thông qua nhiều cuộc gặp gỡ trò chuyện, lưu lại cùng nhau khi cảm thấy có sự lôi cuốn đối với nhau và hình thành sự tin cậy trong giao tiếp thì họ mới thổ lộ những vấn đề riêng tư, tâm trạng của mình. Khi giao tiếp thì người Nhật cũng thường có những cử chỉ đụng chạm vào cơ thể lẫn nhau để biểu thị tính chất tương giao về cảm xúc của mình đối với người đối thoại như khoác vai, khoác tay nhau.
Sự kín đáo trong giao tiếp của người Nhật có nguồn gốc lịch sử sâu xa từ đặc điểm nguồn gốc dân tộc, vị trí địa lý, đặc thù của nền sản xuất. Từ xưa người Nhật lúc nào cũng phải sẵn sàng đối phó với các cuộc xâm lăng, nội chiến giữa các thế lực phong kiến vì vậy, khi giao tiếp với người khác họ ít cởi mở vì họ luôn giữ thái độ đề phòng, tự vệ.

Phép lịch sự:
Trong giao tiếp truyền thống người Nhật thường tránh nhìn trực diện vào người đối thoại, mà họ thường nhìn vào một vật trung gian như một cuốn sách, đồ nữ trang, lọ hoa..., hoặc cúi đầu xuống và nhìn sang bên. Nếu khi nói chuyện mà nhìn thẳng vào người đối thoại thì bị xem như là một người thiếu lịch sự, khiếm nhã và không đúng mực.
Nước Nhật ngày nay đã là một cường quốc kinh tế lớn thứ hai trên thế giới tiến sát tới những tiến bộ nhất trong nền văn hoá nhân loại nhưng người Nhật vẫn chú ý gìn giữ các truyền thống tinh hoa quá khứ, di tích văn hoá cổ của mình, mong muốn giữ nguyên những đặc trưng giao tiếp truyền thống cũng như các hình thức văn hoá đã được thừa hưởng từ thế hệ trước. Nhờ vậy mà những sắc thái giao tiếp đó vẫn tồn tại ổn định lạ thường.
Ăn nói lịch sự là thuộc tính bất di bất dịch trong giao tiếp truyền thống của người Nhật. Vì người Nhật có ý thức tự trọng cao nên họ đặc biệt tránh trở thành kẻ lố bịch, không đúng mực, khiếm nhã khi giao tiếp. Ngay từ nhỏ người Nhật đã được giáo dục rằng “xử sao cho khéo kẻo người cười chê”.[/justify]
RANDOM_AVATAR
vuthianh
 
Bài viết: 19
Ngày tham gia: Chủ nhật 03/04/11 15:36
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của người Nhật Bản

Gửi bàigửi bởi dieuthuy » Chủ nhật 19/06/11 14:47

Phần CĐ 3 của bạn quả thật là không ổn cho lắm, nếu như vậy vô hình chung tạo cảm giác cho người đọc đây là 1 bài so sánh văn hóa giao tiếp phi ngôn ngữ của Nhật Bản trong quá khứ và hiện tại, giữa truyền thông và hiện đại. Mình nghĩ bạn nên chỉnh lại một chút để phù hợp với cấu trúc bài ha. Chúc bạn vui.
RANDOM_AVATAR
dieuthuy
 
Bài viết: 6
Ngày tham gia: Thứ 2 23/02/09 15:16
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần


Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến3 khách

cron