NỘI DUNG PHẦN DẪN NHẬP1. Lý do chọn đề tài
Nước ta có bờ biển dài 3260 km, chạy từ biên giới Trung Quốc đến vịnh Thái Lan, tiếp giáp với lãnh hải của 8 quốc gia và vùng lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Indonesia, Malaysia, Brunei, Campuchia và Thái Lan. Vùng lãnh hải có diện tích trên 1.000.000 km2, với gần 3000 đảo lớn nhỏ. Tự bao đời, biển đã là môi trường sống, môi trường tiếp giao văn hóa của người các dân tộc sinh sống cạnh biển, nương nhờ vào biển. Không chỉ thế, môi trường văn hóa, kinh tế biển đã tạo động lực mạnh mẽ cho sự hưng khởi của nhiều nền văn hóa, nhiều quốc gia và khu vực.
Hội nghị lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đưa ra Nghị quyết “Chiến lược biển đến năm 2020” đã thể hiện mục tiêu vươn ra biển lớn của Đảng ta. Nghị quyết đã tạo cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội, củng cố vững chắc an ninh quốc phòng, đồng thời đòi hỏi những nghiên cứu về con người, văn hóa vùng ven biển – những chủ nhân trực tiếp của biển. Đây trở thành yêu cầu cấp thiết cho công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội.
Việc nghiên cứu, phát huy được ưu thế và sức mạnh của mọi giá trị văn hoá địa phương, vùng miền là có ý nghĩa vô cùng quan trọng cả về giá trị thực tiễn và phương pháp lý luận. Khu vực Nam Trung Bộ mang trong mình nội lực và khả năng cho tư duy hướng biển, hy vọng sẽ làm rõ hơn hướng nghiên cứu này.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận và khoa học về văn hóa cư dân ven biển.
Hệ thống hóa tư liệu về văn hóa biển đảo Nam Trung Bộ và xác định diện mạo, đặc trưng văn hóa.
Thông qua so sánh với các vùng để vận dụng giải pháp, chính sách phát triển đời sống kinh tế - xã hội vùng ven biển hợp lý, đúng định hướng.
3. Lịch sử vấn đề
Các bộ sách phản ánh nền văn hóa biển của nước ta trước đây có Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn viết về các việc phức tạp, chi tiết trong công cuộc phủ dục, trấn án các khu vực biên thủy vào cuối đời nhà Lê. Đây là một sử liệu khá đầy đủ, chính xác về lịch sử cũng như cơ sở pháp lý về chủ quyền của người Việt Nam trên hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thế kỷ 18. Lịch triều hiến chương loại chí và Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú đã đề cập nhiều đến Hoàng Sa và Trường Sa vì án ngự phía đông của phủ Tư Nghĩa lúc bấy giờ., Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi lại cũ thể công cuộc giữ nươcs thời này.
Năm 1998, công trình Biển với người Việt cổ của Trần Quốc Vượng và Cao Xuân Phổ đã khái quát lịch sử nước ta từ thời tiền sử, sơ sử trong bối cảnh Đông Nam Á lục địa và hải đảo.
Tác giả Ngô Đức Thịnh (chủ biên) với nghiên cứu Văn hóa dân gian làng ven biển đã đề cập đến khía cạnh lịch sử và văn hóa hóa dân gian của cộng động cư dân ven biển phía Bắc của Việt Nam.
Những năm gần đây, những công trình nghiên cứu về Biển được chú trọng một cách có hệ thống. Bên cạnh những công trình chuyên khảo về biển, đảo Việt Nam bao gồm: khoa học công nghệ biển; khí tượng thủy văn và động lực biển; địa lý địa mạo, địa chất biển; sinh học, sinh thái, môi trường biển, đa dạng sinh học…còn có các công trình là tập hợp nghiên cứu về lịch sử - văn hóa – nhân học biển như: Người Việt với biển do Nguyễn Văn Kim chủ biên..,
Những đề tài nghiên cứu về Trung Bộ, chuyên sâu văn hóa biển từng địa phương Nam Trung Bộ có: Nhận thức về miền Trung Việt Nam – Hành trình 10 năm tiếp cận do Phân viện văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế tổng tập; Luận án tiến sĩ lịch sử Văn hóa dân gian của cư dân ven biển Quãng Ngãi của tác giả Nguyễn Đăng Vũ (2003); Tín ngưỡng cư dân ven biển Quãng Nam – Đà Nẵng của Nguyễn Xuân Hương (2009); Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú Yên (2007). Trong đó tuyển tập Văn hóa biển đảo và văn hóa biển đảo Khánh Hòa không những cho cái nhìn toàn diện về văn hóa biển đảo Khánh Hòa mà còn là tập hợp những nghiên cứu bổ ích cho nghiên cứu văn hóa biển đảo Việt Nam. Chuyên khảo Văn hóa biển đảo và văn hóa biển đảo Khánh Hòa của tác giả Trần Ngọc Thêm đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm văn hóa biển đảo, xây dựng cơ sở lý luận về nghiên cứu văn hóa biển. Những công trình nghiêm túc, chuyên sâu về các địa phương đã tạo điều kiện nghiên cứu văn hóa biển của cư dân Nam Trung Bộ.
Vai trò kinh tế biển đảo mà xa hơn là đánh bắt hải sản xa bờ đã được nhận thức một cách sâu sắc khi trong câu hỏi phần thi địa lý tốt nghiệp THPT năm 2012 có câu: Ở nước ta hiện nay, việc đánh bắt hải sản xa bờ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những đặc trưng văn hóa của cư dân ven biển Nam Trung Bộ.
Chủ thể: Cộng đồng các dân tộc đang sinh sống trên dải đất Nam Trung Bộ, trong đó chủ yếu là người Việt, Chăm.
Thời gian: Toàn thời gian
Không gian: Vùng Nam Trung Bộ có thể được xác định theo phạm vi địa giới hành chính khác nhau. Lựa chọn nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định Nam Trung Bộ gồm địa giới hành chính thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với cách thống kê trong các cuộc tổng điều tra (như Điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản) để có căn cứ luận chứng cho đề tài, đồng thời phạm vi này phù hợp với khả năng nghiên cứu của tác giả.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trên cơ sở kế thừa, tổng hợp những nghiên cứu của tác giả đi trước, đề tài làm rõ những đặc trưng giá trị của văn hóa biển đảo mang tính vùng, trên cơ sở những tương đồng và khác biệt, dự báo xu hướng phát triển văn hóa biển cư dân Việt Nam Trung Bộ.
Vì một số nguyên do (như về thời gian, những kiêng kỵ nghề biển với nữ…) đề tài chưa khai thác sâu bằng nghiên cứu thực địa.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp hệ thống – loại hình;
Phương pháp thống kê;
Phương pháp so sánh;
Nguồn tư liệu được kế thừa nghiên cứu từ tư liệu dân gian do các tác giả trước sưu tập (thông qua Phụ lục các công trình nghiên cứu); tư liệu sưu tập từ thực tế địa phương nơi tác giả sinh sống; truyện cổ dân gian; tư liệu dân tộc học…
7. Bố cục đề tài
Đề tài ngoài phần dẫn nhập và kết luận, nội dung của đề tài gồm có Chương I là Những vấn đề lý luận và thực tiễn là hệ thống cơ sở luận cứ về văn hóa biển nhìn từ phân vùng văn hóa đất liền, văn hóa biển cận duyên và văn hóa biển xa bờ; đặc trưng văn hóa của cư dân ven biển. Trong phần này, tổng hợp khái quát về điều kiện tự nhiên; lịch sử vùng đất và con người Nam Trung Bộ.
Chương 2 Văn hóa biển của cư dân Nam Trung Bộ nhìn từ góc độ thời gian – không gian. Văn hóa biển của cư dân vùng này sẽ được nghiên cứu từ hướng tiếp cận lịch sử văn hóa, đi theo tiến trình thời gian của những nền văn hóa trên dải đất Nam Trung Bộ. Từ góc nhìn không gian được phân thành các mục: Văn hóa đất liền và biển cận duyên, văn hóa biển xa bờ và văn hóa cảng thị Nam Trung Bộ.
Chương 3 Văn hóa biển nhìn từ chủ thể cư dân Nam Trung Bộ sẽ đi sâu trọng tâm các vấn đề gắn liền với chủ nhân của biển: truyền thống biển của cư dân Việt, Chăm, Raglai; Đặc điểm cộng động ngư dân; tập quán, tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật. Một số khía cạnh ăn – mặc - ở - đi lại đã được nghiên cứu sâu ở các tác giả khác, đề tài chỉ đề cập lồng ghép.
Kết luận và một số đề xuất của tác giả.