Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đến n

Đây là nơi các thành viên Diễn đàn trao đổi các vấn đề về phương pháp luận và phương pháp học tập và nghiên cứu văn hoá học...

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Thứ 7 14/06/14 1:28

Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Thứ 7 14/06/14 1:37

Bài tập 7
Chọn 1 cặp đối tượng để so sánh
Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Thứ 7 09/08/14 16:59

Bài tập 9

Hình ảnh

Hình ảnh


Hình ảnh
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Thứ 7 09/08/14 22:18

Bài tập 3
Định vị đối tượng và lập đề cương chi tiết cho đề tài đã chọn, bổ sung các thành tố phụ (dẫn nhập, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục)

Bài làm
MỤC LỤC
DẪN NHẬP
1. Lý do chọn đề tài
Phong tục tặng quà là một loại hình văn hóa phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Nhật Bản. Đối với người Nhật, phong tục tặng quà còn được xem là phương pháp gắn kết con người lại với nhau, trong phạm trù văn hóa ứng xử, đây được xem là nét văn hóa vừa tế nhị vừa sâu sắc. Bài nghiên cứu nhằm mục đích ứng dụng các đặc tính của văn hóa so sánh như tính chỉnh thể: nghiên cứu phong tục tặng quà ở Nhật trong chỉnh thể của nền văn hóa, lịch sử, tôn giáo Nhật…; tính khoa việt: với so sánh xuyên văn hóa, xuyên khoa học để nêu bật các yếu tố đặc trưng trong phong tục tặng quà của người Nhật; tính khả tỷ giáo: để tìm ra những yếu tố tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hóa khác, phong tục khác; tính đại diện và tính điển hình: để nêu các đặc tính chung trong văn hóa ứng xử của dân tộc Nhật thể hiện qua phong tục tặng quà.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở so sánh với các nền văn hóa của các quốc gia trong khu vực gần (phương Đông) và khu vực xa (phương Tây), đề tài nghiên cứu nhằm mục đích chỉ ra những mối liên hệ mang tính quy luật giữa các thành tố trong lịch sử hình thành và phát triển của phong tục tặng quà Nhật.
Bài nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về phương pháp luận của nhà Nhân học Pháp Marcel Mauss; nhà Nhân học Hoa kỳ Ruth Benedict, nhà dân tộc học Nhật Bản柳田國男 – Yanagida Kunio và các nhà nghiên cứu đáng tin cậy khác để tiếp cận vào các vấn đề cốt lõi tinh tinh thần thông qua nghiên cứu phong tục tặng quà của Nhật dưới góc độ phương pháp cấu trúc hệ thống loại hình. Đây chính là sản phẩm của tư duy biện chứng về từ đó nhận định được điều kiện lịch sử, kinh tế là yếu tố chi phối điều kiện văn hóa và ngược lại. Chính mối quan hệ tương hỗ giữa hai thành tố trên đã hình thành nên văn hóa đặc trưng của dân tộc Nhật thông qua phong tục tặng quà
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong tác phẩm “Nhật Bản trong chiếc gương soi” của Nhật Chiêu, NXBGD, 2003, tác giả đã nhấn mạnh đến tình yêu nghệ thuật, thiên nhiên của con người Nhật Bản gắn liền với các hoạt động mang tính chất nghi lễ, phong tục. Ngoài ra, tuy không thể hiện là một nghiên cứu cụ thể, nhưng dưới dạng các bài báo cáo, bài phóng sự trên mạng internet, chúng tôi thu thập được một số ý kiến tuy vẫn còn ở cấp độ hàm ngôn nhưng là tiền đề quan trọng cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu và xử lý đề tài.
3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Trong tác phẩm “Nhật Bản, đất nước và con người” của Eiichi Aoki, Nguyễn Trường Kiên dịch, được nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 2006 tác giả nêu ra ý kiến rằng: “Con người thường ràng buộc với nghi thức trong suốt đời, từ lúc sinh ra đến khi kết hôn rồi chết đi…”. Dù ở bất cứ một quốc gia nào thì các nghi thức vẫn luôn tồn tại trong suốt quãng đời của một con người, nhất là một đất nước đầy những quy tắc, luật lệ như Nhật Bản.Trong phân tích của Marcel Mauss với công trình “Luận về biếu tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ” 1925, (Nguyễn Tùng dịch, NXB Tri Thức phát hành năm 2011), tác giả đã nêu ra 3 nghĩa vụ chính xoay quanh việc biếu tặng: Nghĩa vụ phải tặng quà (Nghĩa vụ cung ứng), Nghĩa vụ phải nhận món quà đó (Nghĩa vụ tiếp nhận), Nghĩa vụ phải đáp trả (Nghĩa vụ đáp tặng). Nhưng đối với Maurice Godelier, ngoài 3 điều nói trên còn một nghĩa vụ rất quan trọng trong đời sống tinh thần. Và đây được ông cho là nghĩa vụ thứ tư xoay quanh việc biếu tặng. Đó chính là nghĩa vụ phải dâng lễ vật cho thần linh và những người đại diện cho thần linh (Nghĩa vụ dâng tặng cho thần linh). Như vậy, trong một xã hội với mối quan hệ hình thành trên nguyên tắc không phải là thân tộc, ruột thịt thì 4 điều trên được cho là yếu tố nền tảng cho mọi hành vi biếu tặng.
Trong tác phẩm “Hoa cúc và Thanh kiếm” (1967) “菊と刀” (tiếng Anh: The chrysanthemum and The sword) –của Ruth Benedict, với tư cách là một người nước ngoài nhìn nhận về các vấn đề văn hóa xã hội Nhật Bản xoay quanh các chủ đề “người Nhật trong chiến tranh” và “Duy tân Minh Trị”, tác giả đã cho rằng, xã hội Nhật luôn theo khuôn khổ trật tự chi phối – phục tùng” (支配・服従関係) hay mối quan hệ “trên – dưới” (上下関係). Trong đó bao gồm cả “ơn được ban tặng”và “nghĩa vụ trả ơn”. Chữ “ơn” (恩) đối với người Nhật bao gồm cả các nghĩa: obligation (nghĩa vụ), loyalty (trung thành), kindness (tử tế), love (tình yêu) trong tiếng Anh. Còn “trả ơn” gồm cả nghĩa vụ lẫn nghĩa lý. Nghĩa vụ là trung với nước nhà với Thiên hoàng và hiếu (孝) với cha mẹ, tổ tiên. Nghĩa lý là “nghĩa lý đối với con người”, tức là việc chấp hành các giao ước mang tính pháp lý với chủ, họ hàng hay bất cứ ai và “nghĩa lý đối với danh dự”, tức là việc giữ gìn danh dự. Thông qua việc tặng quà, người Nhật thường mang đến một thông điệp muốn truyền tải đến đối phương về sự biết ơn, có nghĩa vụ phải đền đáp và sẽ luôn được thực thi vào những hoàn cảnh nhất định để thể hiện lòng trung thành hay một tình yêu bền vững.
Cùng quan điểm đó, Yanagida Kunio(柳田國男) , một trong những nhà Dân tộc học Nhật Bản đầu tiên đã có cống hiến to lớn cho các công trình nghiên cứu sâu rộng về tập quán và văn hóa trao đổi quà tặng trong nước. Trong các tác phẩm “Nhân gian truyền thừa luận” (民間伝承論) 1934 “Thực Phẩm và Trái Tim” (食物と心臓) 1939 – Tokyo, Chikuma Shobou, tác giả nêu rằng đặc trưng các vật biếu tặng ở Nhật Bản đến tận ngày nay cũng thế, thực phẩm chiếm một vị trí rất quan trọng. Đây là việc khó thể tìm thấy ở các nước khác. Đó vốn là những lễ vật mà con người dâng lên cho thần linh. Theo ông, những lễ vật đó con người có thể ăn cùng với thần linh trong các ngày lễ và ông gọi việc như thế là “thần nhân cùng thực” (神人共食). Dần dần những người đến tham gia lễ hội cùng nhau ăn, sau đó là thực phẩm trở thành những món quà mà con người tặng cho nhau. Người ta không nhận hết toàn bộ phần thực phẩm được tặng mà lại có thói quen sẽ hồi lại một phần trong đó cho người tặng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên của đề tài, chúng tôi chọn đối tượng là phong tục tặng quà của Nhật với phạm vi không gian là trên toàn lãnh thổ Nhật và thời gian xuyên suốt quá trình lịch sử của Nhật. Tuy nhiên, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến phong tục tặng quà trong thời hiện đại, đồng thời thực hiện một số so sánh với các quốc gia khác để nêu bật tính đặc thù của phong tục tặng quà ở Nhật.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn rằng sẽ đem đến cho người đọc một cái nhìn tổng quan và tương đối đầy đủ về nền phong tục tặng đáp tại xứ sở Phù Tang, góp phần làm rõ thêm tầm quan trọng của những món quà truyền thống trong việc giữ gìn các mối quan hệ với người Nhật. Mặt khác, đây có thể sẽ trở thành tiền đề cho việc nghiên cứu sâu rộng và chi tiết, rõ ràng hơn về văn hóa tặng đáp cũng như thói quen của người Nhật Bản. Qua đó có thề đưa ra cái nhìn chung và cả sự khác biệt của tập quán tặng quà giữa Nhật Bản và Việt Nam.
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc chọn lọc, phân loại, tổng hợp các tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, chúng tôi mong muốn rằng đề tài có thể đóng góp làm tài liệu nghiên cứu cho các lĩnh vực văn hóa, xã hội, tâm lý dân tộc Nhật Bản… Ngoài ra, nội dung nghiên cứu trong tập luận văn này có thể sẽ đóng góp được phần nào nguồn tư liệu cho việc giảng dạy, học tập hoặc nghiên cứu văn hóa Nhật Bản hiện đại. Qua đó chúng tôi hi vọng đề tài này sẽ được đóng góp cho các công tác giao lưu văn hóa, kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: để tổng hợp, xử lý các thông tin dưới dạng hệ thống một cách chặt chẽ.
- Phương pháp lịch sử: trình bày các cách thức tặng quà và đáp trả theo lịch đại để thấy rõ sự thay đổi của tập quán tặng quà.
- Phương pháp liên ngành: vận dụng các phương pháp xã hội học, văn hóa học, tâm lý học, phân tâm học để làm sáng tỏ các yếu tố liên quan đến vấn đề xem tặng quà như là một lễ nghi mang tính tâm linh và văn hóa.
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu được chúng tôi xử lý chủ yếu là các tài liệu sách báo, tạp chí nước ngoài, các công trình nghiên cứu kinh điển của các nhà nhân học nổi tiếng trên thế giới, đồng thời các tranh ảnh trong các trang web có nội dung đáng tin cậy.
7. Bố cục nghiên cứu
Bố cục được chia làm 3 phần
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trong chương này, chúng tôi phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài như thế nào là tặng quà và các biểu hiện của phong tục tặng quà thể hiện qua các lý thuyết nghiên cứu cũng như các yếu tố thực tiễn chung hình thành nên tính cách, con người Nhật Bản
Chương 2: Các giai đoạn hình thành phong tục tặng quà của Nhật
Trong chương này, chúng tôi tổng hợp các kiến thức liên quan đến quá trình hình thành nên phong tục tặng quà của Nhật từ cổ đại đến ngày nay đồng thời phân tích những yếu tố đưa đến sự chuyển biến của phong tục tặng quà.
Chương 3: Nghi thức tặng quà và các điều cấm kỵ trong so sánh với các nước
Trong chương này, chúng tôi đi vào phân tích các yếu tố về nghi thức, lễ nghi, phương pháp tặng quà được nâng lên thành nét văn hóa đặc sắc, đồng thời thực hiện so sánh với các quốc gia khác để nêu bật tính đặc trưng của phong tục tặng quà của Nhật thông qua các điều cấm kỵ.
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. A.A Radughin (chủ biên) 2004: Vũ Đình Phong (dịch), Từ Thị Loan (hiệu đính),Văn hóa học những bài giảng, Nxb Viện văn hóa thông tin, Hà nội
2. Ban biên tập United Publisher Inc 1998: Nhật Bản ’97-’98 tăng cường hiểu biết và hợp tác, Nxb United Publisher Inc, Tokyo- Nhật Bản
3. Eiichi Aoki (chủ biên) 2006:Ts Nguyễn Trường Kiên (dịch), Nhật Bản – Đất nước & con người, Nxb. Văn học, Hà Nội
4. Huỳnh Văn Giáp, 2004: Địa lý Đông Bắc Á Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản (Môi trường, tự nhiên và các đặc điểm nhân văn, kinh tế - xã hội), Nxb. Đại học Quốc gia – Thành phố Hồ Chí Minh
5. Marcel Mauss, 2011: Nguyễn Tùng (dịch), Luận về Biếu Tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ (1925), Nxb. Tri Thức, Hà Nội
6. Nhật Chiêu, 2003: Nhật Bản trong chiếc gương soi, Nxb. Giáo Dục, Thành phố Hồ Chí Minh
7. Nguyễn Trường Tân, 2011: Tìm hiểu Văn hóa Nhật Bản, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Thứ 7 09/08/14 23:10

Bài tập 8

Chọn nội dung thích hợp trong đề tài của mình để vận dụng phương pháp loại hình nhằm phát hiện tri thức mới

Bài làm
Nội dung: Những đặc trưng cơ bản của người Nhật trong phong tục tặng quà.

Đặc trưng của bản sắc dân tộc Nhật Bản
Theo V. Pronikov và I. Ladanov: “ Bản sắc dân tộc Nhật Bản bao gồm những đặc trưng nổi bật sau đây: a. Đối với toàn thể cộng đồng: yêu lao động, tình cảm thẩm mỹ phát triển, yêu thiên nhiên, trung thành với truyền thống, thích vay mượn, coi dân tộc mình là trung tâm, trọng thực; b. Đối với các tập thể nhóm: tính kỷ luật cao, trung thành với các nhân vật có uy quyền, chu toàn bổn phận; c. Đối với nếp sống thường nhật của từng cá nhân: lịch lãm, chu tất và chỉnh tề, giỏi tự chủ, căn cơ, hiếu học và thích tìm hiểu những điều mới lạ.”[V. Pronikov – I. Ladanov, 2004, Đức Dương (biên soạn), Người Nhật, Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, trang 29, 30].

Nhật Bản là một đảo quốc, tách biệt với đại lục, có tài nguyên nghèo nàn nên từ xa xưa đã có nhu cầu học hỏi, thu lượm những điều tinh hoa từ các nước khác. Dù đi đến đâu, hễ bắt gặp những điều mới lạ, họ đều rất hăm hở, rất nóng lòng muốn biết đó là gì, có ý nghĩa gì đặc biệt và có lợi cho họ hay không. Họ không ngại học hỏi những gì cần thiết, cũng như ngày xưa học hỏi chữ viết Trung Hoa, đạo lý nhà Phật hay công nghệ kĩ thuật của phương Tây. Người Nhật học hỏi nhưng không rập khuôn, những cái mà họ học khi đến nơi họ đã không còn là thứ ban đầu, mà là một cái mới của riêng họ. Một mặt luôn học hỏi, mặt khác lại luôn sáng tạo và thay đổi cái cũ, để nó không trở nên nhàm chán và buồn tẻ. Người Nhật luôn cho rằng kiến thức là vô hạn, tu tập tính cách là cả một quá trình cố gắng suốt đời, vì thế họ luôn tranh thủ mọi cơ hội học hỏi từ người khác. Tinh thần ham học hỏi và thú vui tìm đến những cái mới lạ đã tạo nhiều đột phá cho sự phát triển trong kinh tế của Nhật.

Nhật Bản, một đất nước tuy nghèo nàn tài nguyên nhưng đời sống tinh thần lại vô cùng giàu có và phong phú. Truyền thống luôn trân trọng cái đẹp, yêu mến thiên nhiên đã đem đến tâm hồn vừa thơ mộng, vừa tinh tế cho người dân xứ sở Hoa Anh Đào. Việc có được sự quan sát tinh tế như thế không chỉ giúp họ đến gần hơn với thiên nhiên, với những vẻ đẹp đơn sơ, giản dị nhất mà còn giúp họ có cái nhìn chi tiết nhất, đúng đắn nhất về con người, sự vật và sự việc để đưa ra cách ứng xử tốt nhất trong mọi hoàn cảnh. Lịch thiệp trong giao tiếp với bất cứ đối tượng nào được coi là luật lệ mặc định khi sống tại Nhật. Không bao giờ được từ chối hay phê phán một cách thẳng thừng dù với bất cứ ai, nếu làm như vậy, người Nhật sẽ cho đó là sự sỉ nhục, là những lời cực kì gay gắt. Ngoài ra người Nhật được nhận định là một dân tộc trọng hình thức bên ngoài mà bản thân họ gọi là “Tatemae”, vì thế từ cách ăn mặc cho đến cung cách bày trí trong nhà đều luôn phải gọn gàng, ngăn nắp. Yếu tố này dẫn đến tính cách của người Nhật khi tặng biếu, đáp lễ các món quà, họ luôn nâng niu một cách trang trọng, họ đặt hết tâm huyết, ý nghĩa trong từng món quà, từng nếp gấp, từng màu sắc, từng giá trị món quà để người thụ hưởng sẽ cảm nhận ngay được tấm lòng của họ.

Trong văn hóa ứng xử, những hành động, cử chỉ, lời nói đều phải tuân theo những quy định về vị trí trong gia đình và xã hội. Người con, người vợ trong nhà phải luôn nghe lời người chồng, người cha; những người em trong gia đình phải kính trọng, vâng lời người con trai trưởng hay còn gọi là trưởng nam khi người cha vắng nhà; nhân viên trong công ty phải phục tùng lời của cấp trên; người dân phải kính trọng Thiên Hoàng;… Chính vì yếu tố trên mà trong phong tục tặng quà ở Nhật, khi người lớn hơn, địa vị cao hơn tặng quà thì dù thích hay không người nhận không được từ chối.
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Re: Tính cam chịu của người phụ nữ Việt từ thời phong kiến đ

Gửi bàigửi bởi Lê Khiên » Chủ nhật 10/08/14 18:27

Bài tập 5
Chọn một khái niệm cơ bản trong đề tài
-định nghĩa và trình bày theo 7 bước
-lập sơ đồ định nghĩa

Bài làm
Theo các từ điển Tiếng Việt thông dụng: Quà là vật tặng, biếu để tỏ lòng quan tâm, quý mến. Tặng là cho, trao để khen ngợi, khuyến khích hoặc tỏ lòng quý mến. Tặng phẩm, tặng vật là vật dùng để tặng.
Quà tặng là sản phẩm được gửi cho người nhận mà không cần sự thanh toán nào. Mặc dù việc tặng quà có thể bao gồm một kỳ vọng qua lại hợp tác. Trong xã hội loài người việc trao đổi tiền, hàng hóa, công cụ lao động… tạo nên sự phát triển của xã hội, còn quà tặng tạo nên sự gắn kết xã hội. Có thể tặng quà cho nhau bằng nhiều cách, nhiều dịp khác nhau. Bằng cách tặng quà, chúng ta có thể mở rộng quan hệ với những người xung quanh để làm cho đối phương nhớ tới mình hơn, làm cho đối phương hạnh phúc hơn, giúp họ ít buồn hơn. Món quà cũng có thể được coi như một sự tri ân, một lời xin lỗi, và cả sự tha thứ
Tặng quà trở thành một hành vi mang tính văn hóa, và đôi khi nó là cả một nghệ thuật. Để việc tặng quà mang lại hiệu quả diễn đạt tình cảm tốt, mang lại niềm vui cho người nhận thì yêu cầu về sự phù hợp về mục đích và ý nghĩa của món quà là rất cần thiết. Không những thế, người tặng đôi khi còn phải hiểu rõ ý nghĩa của món quà. Để món quà trở thành sứ giả mang thông điệp tình cảm hiệu quả nhất.
Tặng quà và quà tặng là những khái niệm ẩn chứa bên trong nó sự phong phú và đa dạng. Bởi vì ý nghĩa và mục đích tặng quà chẳng phải bao giờ và ở nơi nào cũng giống nhau. Có những món quà chỉ thuần túy mang ý nghĩa tinh thần, nó khiến ta vui sướng, nó làm ta ấm lòng...Nhưng có những món quà chỉ mang ý nghĩa vật chất, khi đó, thông điệp về mục đích và ý nghĩa của món quà được thể hiện rõ nhất. Thế nên, có những món quà chỉ khiến ta lưu tâm trong chốc lát nhưng cũng có những món quà ta mang theo suốt cả cuộc đời.
Trong tác phẩm “Nhật Bản, đất nước và con người” của Eiichi Aoki, Nguyễn Trường Kiên dịch, được nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, năm 2006 tác giả nêu ra ý kiến rằng: “Con người thường ràng buộc với nghi thức trong suốt đời, từ lúc sinh ra đến khi kết hôn rồi chết đi…”. Dù ở bất cứ một quốc gia nào thì các nghi thức vẫn luôn tồn tại trong suốt quãng đời của một con người, nhất là một đất nước đầy những quy tắc, luật lệ như Nhật Bản. Tuy đi đến đâu cũng có những nghi thức nhưng từng địa phương riêng biệt lại có những phong tục tập quán khác nhau. Lễ hội ở hai vùng Đông, Tây Nhật Bản cũng có sự khác nhau khá rõ ràng. Phong tục tặng quà ở Nhật hình thành từ thời cổ đại, khi sau những vụ mùa, người dân Nhật đã có tập tục đem dâng cúng những mẻ lúa đầu mùa (初穂 – hatsuho) cho các vị thần linh và người đại diện cho vị thần đó để bày tỏ lòng thành tâm và nỗi kính sợ đối với các vị thần, cầu mong ban phước lành và tránh khỏi sự trừng phạt của thần linh. Dần dần theo sự phát triển của xã hội, hình thức tặng thể hiện các loại hình thuế, tiền, vật cống nạp, trao đổi hàng hóa hay “kinh tế cho nhận” (贈与経済) và cuối cùng tiến đến “kinh tế thị trường” (市場経済). Nhưng cho đến ngày nay, vai trò của việc tặng quà trong xã hội hiện đại này vẫn đang rất được xem trọng và dù có nhiều biến chuyển nhưng bản chất của hành vi này vẫn không thay đổi trong đó việc tặng quà luôn mang một thông điệp là tạo mối quan hệ thân thiết, bền vững giữa người và người đồng thời quà tặng là chất xúc tác để tiến hành nhiệm vụ một cách trôi chảy, nhẹ nhàng hơn.

Một số khái niệm về phong tục tặng quà

Trong phân tích của Marcel Mauss với công trình “Luận về biếu tặng – Hình thức và lý do của sự trao đổi trong các xã hội cổ sơ” 1925, (Nguyễn Tùng dịch, NXB Tri Thức phát hành năm 2011), tác giả đã nêu ra 3 nghĩa vụ chính xoay quanh việc biếu tặng: Nghĩa vụ phải tặng quà (Nghĩa vụ cung ứng), Nghĩa vụ phải nhận món quà đó (Nghĩa vụ tiếp nhận), Nghĩa vụ phải đáp trả (Nghĩa vụ đáp tặng). Nhưng đối với Maurice Godelier, ngoài 3 điều nói trên còn một nghĩa vụ rất quan trọng trong đời sống tinh thần. Và đây được ông cho là nghĩa vụ thứ tư xoay quanh việc biếu tặng. Đó chính là nghĩa vụ phải dâng lễ vật cho thần linh và những người đại diện cho thần linh (Nghĩa vụ dâng tặng cho thần linh). Như vậy, trong một xã hội với mối quan hệ hình thành trên nguyên tắc không phải là thân tộc, ruột thịt thì 4 điều trên được cho là yếu tố nền tảng cho mọi hành vi biếu tặng.

Trong tác phẩm “Hoa cúc và Thanh kiếm” (1967) “菊と刀” (tiếng Anh: The chrysanthemum and The sword) –của Ruth Benedict, với tư cách là một người nước ngoài nhìn nhận về các vấn đề văn hóa xã hội Nhật Bản xoay quanh các chủ đề “người Nhật trong chiến tranh” và “Duy tân Minh Trị”, tác giả đã cho rằng, xã hội Nhật luôn theo khuôn khổ trật tự chi phối – phục tùng” (支配・服従関係) hay mối quan hệ “trên – dưới” (上下関係). Trong đó bao gồm cả “ơn được ban tặng”và “nghĩa vụ trả ơn”. Chữ “ơn” (恩) đối với người Nhật bao gồm cả các nghĩa: obligation (nghĩa vụ), loyalty (trung thành), kindness (tử tế), love (tình yêu) trong tiếng Anh. Còn “trả ơn” gồm cả nghĩa vụ lẫn nghĩa lý. Nghĩa vụ là trung với nước nhà với Thiên hoàng và hiếu (孝) với cha mẹ, tổ tiên. Nghĩa lý là “nghĩa lý đối với con người”, tức là việc chấp hành các giao ước mang tính pháp lý với chủ, họ hàng hay bất cứ ai và “nghĩa lý đối với danh dự”, tức là việc giữ gìn danh dự. Thông qua việc tặng quà, người Nhật thường mang đến một thông điệp muốn truyền tải đến đối phương về sự biết ơn, có nghĩa vụ phải đền đáp và sẽ luôn được thực thi vào những hoàn cảnh nhất định để thể hiện lòng trung thành hay một tình yêu bền vững. Cùng quan điểm đó, Yanagida Kunio(柳田國男) , một trong những nhà Dân tộc học Nhật Bản đầu tiên đã có cống hiến to lớn cho các công trình nghiên cứu sâu rộng về tập quán và văn hóa trao đổi quà tặng trong nước. Trong các tác phẩm “Nhân gian truyền thừa luận” (民間伝承論) 1934 “Thực Phẩm và Trái Tim” (食物と心臓) 1939 – Tokyo, Chikuma Shobou, tác giả nêu rằng đặc trưng các vật biếu tặng ở Nhật Bản đến tận ngày nay cũng thế, thực phẩm chiếm một vị trí rất quan trọng. Đây là việc khó thể tìm thấy ở các nước khác. Đó vốn là những lễ vật mà con người dâng lên cho thần linh. Theo ông, những lễ vật đó con người có thể ăn cùng với thần linh trong các ngày lễ và ông gọi việc như thế là “thần nhân cùng thực” (神人共食). Dần dần những người đến tham gia lễ hội cùng nhau ăn, sau đó là thực phẩm trở thành những món quà mà con người tặng cho nhau. Người ta không nhận hết toàn bộ phần thực phẩm được tặng mà lại có thói quen sẽ hồi lại một phần trong đó cho người tặng.
RANDOM_AVATAR
Lê Khiên
 
Bài viết: 39
Ngày tham gia: Thứ 4 25/09/13 18:15
Cảm ơn: 0 lần
Được cám ơn: 0 lần

Trang trước

Quay về Phương pháp học tập và nghiên cứu VHH

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến11 khách

cron