Bạn đang xem: Nghiên cứu Thư Viện Số (Sách - Ảnh - Video) Tủ sách văn hoá học Trần Văn Cơ. Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học

Trần Văn Cơ. Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học

Email In
Chỉ mục bài viết
Trần Văn Cơ. Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Tất cả các trang

 

NHNG KHÁI NIỆM NGÔN NG HC TRI NHN
LIÊN QUAN ĐẾN
VĂN HOÁ HC

(trích sách Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển”)

PGS.TSKH. TRẦN VĂN CƠ

TV-Co  Mục lục

   Giới thiệu: TRẦN VĂN CƠ VÀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN (Trần Ngọc Thêm)

   I- TRI NHẬN, Ý NIỆM và CẢM XÚC

        TRI NHẬN (cognition)

NHÂN CHỦNG HỌC TRI NHẬN (cognitive anthropology)

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI (linguistic worldview)

Ý NIỆM (concept)

Ý NIỆM HOÁ (conceptualization)

CẤU TRÚC CỦA Ý NIỆM (structure of concept)

PHÂN LOẠI Ý NIỆM (classification of concepts)

CẢM XÚC (emotion)

PHÂN LOẠI CẢM XÚC THEO MÔ HÌNH TÂM-SINH LÍ HỌC (psycho-physiological classification of emotions)

II- PHẠM TRÙ và ĐIỂN DẠNG

PHẠM TRÙ (category)

PHẠM TRÙ HÓA (categorization)

ĐIỂN DẠNG (prototype)

KHUÔN MẪU LỜI NÓI (stereotype)

HIỆN TƯỢNG MỜ (fuzzy)

IV- ẨN DỤ và HOÁN DỤ

ẨN DỤ (metaphor)

ẨN DỤ CẤU TRÚC (structural metaphor)         

ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG (orientational metaphor)

ẦN DỤ TRI NHẬN/ Ý NIỆM (cognitive/ conceptual metaphor)

TÍNH HỆ THỐNG CỦA NHỮNG Ý NIỆM ẨN DỤ (systematicity of metaphorical concepts)

TƯƠNG HÒA VĂN HÓA (cultural coherence)

HOÁN DỤ (metonymy)

V- BIỂU TRƯNG HÓA và DĨ NHÂN VI TRUNG

BIỂU TRƯNG HÓA (symbolization)

BIỂU TƯỢNG (symbol)

BIỂU TƯỢNG TINH THẦN (mental representation)

DĨ NHÂN VI TRUNG (anthropocentrism)

HUYỀN THOẠI CHỦ NGHĨA KHÁCH QUAN (myth of objectivism)

HUYỀN THOẠI CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN (myth of subjectivism)

VI- CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON

1. George LAKOFF

2. G. Lakoff – người tự phủ định mình

3. G. Lakoff và M. Johnson ― những “người nổi loạn” trong ngôn ngữ học thế giới nửa sau thế kỉ XX

4. Cuộc cách mạng tri nhận đang tiếp diễn.

 

Giới thiệu: TRẦN VĂN CƠ VÀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

PGS.TSKH. Trần Văn Cơ sinh ngày 15-11-1936 tại Nha Trang. Ông là một nhà Nga ngữ học, từng công tác tại Phân viện Pushkin và Khoa Ngữ văn Nga. Luận án TSKH của ông có nhan đề “Nguyên lý ngữ pháp học âm dương” , đã được Nhà xuất bản “Sáng tạo” của Hội KH-KT Việt Nam tại Nga xuất bản bằng tiếng Nga năm 1997 (265 tr.). Ông đã có nhiều năm làm công tác viên khoa học  tại Viện hàn lâm khoa học Nga, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên Nga.

Trong những năm sau này, Ngôn ngữ học tri nhận là hướng nghiên cứu chính của ông. Các công trình chính của ông, ngoài cuốn “Nguyên lý ngữ pháp học âm dương” bằng tiếng Nga (1997) vừa nhắc ở trên, còn có:

Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ). Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 2007.

Khảo luận - Ẩn dụ tri nhận. Nxb. Lao động – Xã hội. TP. Hồ Chí Minh, 2009.

Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển. Nxb. Phương Đông. TP. Hồ Chí Minh, 2011.

Và nhiều bài trên T/c Ngôn ngữ về Ngôn ngữ học tri nhận.

Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) là một hướng nghiên cứu mới hình thành trong nửa sau thế kỷ XX, là một bộ phận của Khoa học tri nhận (Cognitive science) nói chung, có liên hệ mật thết với văn hoá học và “Nhân chủng học tri nhận” (cognitive anthropology)

Được sự đồng ý của tác giả, vanhoahoc.edu.vn xin giới thiệu 27 mục từ trong cuốn “Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển” (do Nxb. Phương Đông ấn hành tại TP. Hồ Chí Minh năm 2011) có liên quan nhiều nhất đến văn hoá học.

27 mục từ này được chúng tôi xếp thành bốn phần theo bốn chủ đề:

Phần thứ nhất “TRI NHẬN, Ý NIỆM và CẢM XÚC” giới thiệu những khái niệm cơ bản: từ TRI NHẬN (cognition) tới NHÂN CHỦNG HỌC TRI NHẬN (cognitive anthropology), rồi đi qua giới thiệu chung về BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI (linguistic worldview). Trên cơ sở đó đi sâu vào khái niệm chủ chốt của khoa học tri nhận là Ý NIỆM (concept), cùng với nó là các vấn đề Ý NIỆM HOÁ (conceptualization), CẤU TRÚC CỦA Ý NIỆM (structure of concept) và PHÂN LOẠI Ý NIỆM (classification of concepts). Bên cạnh nhận thức khách quan, hoạt động tri nhận không thể bỏ qua được một vấn đề khác là CẢM XÚC (emotion). Cảm xúc khác với nhận thức ở chỗ nó là sự phản ứng chủ quan của con người đối với những tác động của thế giới khách quan. Cảm xúc thuộc thế giới bên trong (nội tâm) của con người, do đó nó cũng là đối tượng của tri nhận. Sau khái niệm Cảm xúc, phần I kết thúc bằng việc PHÂN LOẠI CẢM XÚC THEO MÔ HÌNH TÂM-SINH LÍ HỌC (psycho-physiological classification of emotions).

Phần thứ hai “PHẠM TRÙ và ĐIỂN DẠNG” giới thiệu những công cụ cơ bản của hoạt động tri nhận. Con người nhận thức thế giới bằng cách quy mọi hiện tượng, sự vật về các PHẠM TRÙ (category) bằng cách PHẠM TRÙ HÓA (categorization) chúng. Những phạm trù điển hình tạo tyhành những ĐIỂN DẠNG (prototype). Cũng theo hướng phạm trù hóa, điển dạng hóa là việc tạo lập và sử dụng các KHUÔN MẪU LỜI NÓI (stereotype). Trong quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, con người không bao giờ được phép quên rằng vạn vật trong thế gian vốn mang bản chất là những HIỆN TƯỢNG MỜ (fuzzy).

Phần thứ ba “ẨN DỤ và HOÁN DỤ” đi sâu giới thiệu một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận là lý thuyết về ẨN DỤ (metaphor). Từ chỗ là một khái niệm của ngôn ngữ học, ẩn dụ đang trở thành đồi tượng quan tâm của nhiều khoa học: triết học, lôgic học, tâm lí học, thần kinh học v.v., xúc tiến sự tác động lẫn nhau và hội nhập của các tư tưởng khoa học. Ẩn dụ trở thành chìa khoá mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy và các quá trình nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới. Từ khái niệm chung về ẩn dụ, bạn đọc sẽ được tiếp xúc với các vấn đề: ẨN DỤ CẤU TRÚC (structural metaphor)      , ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG (orientational metaphor), ẦN DỤ TRI NHẬN/ Ý NIỆM (cognitive/ conceptual metaphor), TÍNH HỆ THỐNG CỦA NHỮNG Ý NIỆM ẨN DỤ (systematicity of metaphorical concepts). Do ẩn dụ tri nhận được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, nên cấu trúc ẩn dụ của những ý niệm cơ bản phải phù hợp với những giá trị văn hóa nền tảng nhất. Tương hòa nghĩa là. Mục từ TƯƠNG HÒA VĂN HÓA (cultural coherence) cho thấy việc sử dụng ẩn dụ phải phù hợp như thế nào với cách nghĩ, với quan niệm về thế giới, với phong tục tập quán, với những hoạt động tinh thần của cộng đồng chủ thể văn hóa. Cuối phần này giới thiệu về một khái niệm luôn đi liền với ẩn dụ là HOÁN DỤ (metonymy).

Phần thứ tư “BIỂU TRƯNG HÓA và DĨ NHÂN VI TRUNG” giới thiệu một công cụ khác của khoa học tri nhận là BIỂU TRƯNG HÓA (symbolization). Sản phẩm của biểu trưng hóa là BIỂU TƯỢNG (symbol), loại biểu tượng quan trọng nhất là BIỂU TƯỢNG TINH THẦN (mental representation). Mọi quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, biểu trưng hóa đều không thoát ra khỏi mối quan hệ của hoạt động tri nhận trong mối quan hệ với con người, hoạt động này dựa trên một nguyên lí mang tính phương pháp luận chủ đạo là nguyên lí DĨ NHÂN VI TRUNG (anthropocentrism) một học thuyết triết học chủ trương con người là trung tâm của vũ trụ và là mục đích của tất cả những sự kiện diễn ra trong thế gian. Và trong việc tri nhận thế giới mà con người là trung tâm ấy, mọi thứ CHỦ NGHĨA KHÁCH QUAN (objectivism) hay CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN (myth of subjectivism) đều chỉ là những HUYỀN THOẠI (myth).

Với tư cách là một Phụ lục, phần cuối cùng dành cho việc giới thiệu “CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON”. G. Lakoff và M. Johnson là hai đồng tác giả của quyển sách “Ẩn dụ chúng ta đang sống” (“Metaphors We Live by”) xuất bản năm 1980 tại Mỹ. Đây là cuốn sách đã làm đảo lộn tư duy khoa học về ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và được xem là “Kinh Thánh của ngôn ngữ học tri nhận. Phần “CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON” gồm bốn mục: (1) Giới thiệu về George LAKOFF; (2) G. Lakoff – người tự phủ định mình; (3) G. Lakoff và M. Johnson ― những “người nổi loạn” trong ngôn ngữ học thế giới nửa sau thế kỉ XX; (4) Cuộc cách mạng tri nhận đang tiếp diễn.

Hy vọng rằng Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học của PGS.VS.TSKH. Trần Văn Cơ sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu các lĩnh vực văn hoá nhận thứcvăn hoá ngôn từ trong văn hoá học.

 

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm