MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA THIÊN CHÚA GIÁO
ĐỐI VỚI VĂN HOÁ VIỆT NAM (THẾ KỶ XVII – ĐẦU THẾ KỶ XX)
Phạm Thị Thanh Huyền
So với Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thì Thiên Chúa giáo là một tôn giáo đến muộn, tuy nhiên trải qua thời gian, văn hoá Thiên Chúa giáo vẫn có một chỗ đứng nhất định trong văn hoá Việt Nam. Tuy vậy, văn hoá Thiên Chúa giáo đã có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của văn hoá Việt Nam. Những đóng góp của Thiên Chúa giáo đối với văn hoá dân tộc Việt Nam thể hiện trên rất nhiều lĩnh vực: lối sống đạo, ngôn ngữ - chữ viết, báo chí, văn chương, kiến trúc… Sẽ là thiếu khách quan và công bằng nếu như chúng ta phủ nhận những đóng góp có thể coi là tích cực này của Thiên Chúa giáo.


Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng. Do đó nó có tác động tới nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục, đạo đức, lối sống, tư tưởng tình cảm của cộng đồng quốc gia dân tộc. Đạo Phật không nằm ngoài quy luật đó. Xuất thế tới Việt Nam, Phật giáo đã trở thành một đạo nhập thế và có ảnh hưởng sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có chính trị. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng đó tùy thuộc vào từng giai đoạn lịch sử nhất định, phụ thuộc vào các chính sách của giai cấp cầm quyền.
Khi nói đến dấu ấn Việt hóa của Nho giáo Việt Nam không thể không nhắc đến triều Trần, một triều đại đặc biệt không chỉ lừng danh với 3 lần chiến thắng quân Nguyên - Mông, với việc tạo ra dòng Phật giáo mang yếu tố Việt (Trúc Lâm và Thảo Đường) mà còn là triều đại có công tạo ra sự khác biệt cho Nho giáo Việt Nam với Nho giáo Trung Hoa.
Về giá trị quyển sách, xin mượn lời GS.TS. Mai Quốc Liên giới thiệu về công trình: “Cuốn Từ điển Anamitico-Latinum này có một vị trí và một giá trị đặc biệt trong nền văn hóa nước nhà, đặc biệt là trong việc nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng tiếng Việt, trong đó có nhiều từ ngữ cổ, được ghi lại bằng tiếng Việt và chữ Nôm.[…] Đây là một kho tàng quý báu của quá khứ, của lịch sử. Khi những nhà nghiên cứu, những người yêu tiếng Việt và những người muốn tìm hiểu tiếng Việt trong cội nguồn có cuốn Từ điển này trong tay, chắc chắn các vị sẽ phát huy được hết tác dụng và giá trị của nó.”.
Chúng tôi xin khẳng định rằng ba chữ cuối câu thứ sáu trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là cái đa đa chứ dứt khoát không thể là “cái gia gia” vì : – 1. Từ vựng tiếng Việt tuyệt đối không có hai tiếng “gia gia” với tính cách là danh từ chỉ con chim đa đa ; – 2. Bà Huyện không có quyền bóp méo hai tiếng đa đa thành “gia gia” để chỉ giống chim này ; – 3. Nếu “gia gia” là từ tượng thanh (phi khái niệm) thì nó không thể kết hợp với danh từ đơn vị cái để định danh con đa đa ; huống chi, – 4. Với cái tai của người Việt, con chim đa đa cũng không bao giờ kêu “gia gia” ; còn – 5. ở đây, sở dĩ Bà Huyện Thanh Quan dùng thẳng hai tiếng đa đa chẳng qua vì bà muốn dùng điển “giá cô” trong thơ cổ của Trung Hoa mà thôi.
Có thể thấy, thời Lý - Trần là thời kỳ mà cùng với dân tộc, nền văn hóa Đại Việt phải vận động và có ý thức đối chọi với nhiều thách thức gay gắt từ môi trường chính trị và văn hóa khu vực. Do sự vận động nội tại cũng như những tác động ngoại sinh, văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần có sự chuyển hóa mạnh trong cơ tầng, cấu trúc cũng như biểu hiện và hành vi văn hóa.
Việc phân tích từ ngữ bài Qua đèo Ngang mà dựa vào văn bản dịch sang tiếng Việt hiện nay có thể khó thuyết phục, vì mỗi người có quan điểm riêng. Hy vọng rằng trong tương lai, có công trình nghiên cứu bài thơ này qua các bản chữ Nôm, một công trình xuất sắc, nhận định chính xác, đủ sức thuyết phục mọi người. Mong lắm thay!
Chúng tôi không bàn đến hai tiếng đa đa (da da, gia gia) với tính cách là một hiện tượng ngữ âm lịch sử thuần tuý. Ở đây, ngữ âm học lịch sử chỉ là một phương tiện. Nên nhớ rằng văn học có mối quan hệ khăng khít với ngữ học. Điều này, các chuyên gia đã nói đến từ lâu.
Có nhiều danh tướng phò giúp Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế. Nhưng có bốn vị
1. Mở đầu











