VƯỜN CUNG ĐÌNH VIỆT NAM - LỊCH SỬ, HIỆN TRẠNG
VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, PHỤC HỒI
Phan Thanh Hải
Theo quan điểm kiến trúc phương Đông, vườn là “một không gian kiến trúc dựa vào hình thế thiên nhiên để tạo nên không gian trữ tình có sự kết hợp giữa các yếu tố tự nhiên và kiến trúc, đặc biệt khai thác triệt để các yếu tố sông hồ, núi đồi, cây xanh và hoa trái, khai thác triệt để các yếu tố về đá, nước và cây”.


Với niềm tin vào sức mạnh cai trị và ban phát các hiện tượng tự nhiên của các Thánh Mẫu, các Mẹ, người Việt đã xây dựng cho mình một triết lý nhân sinh phù hợp với hoàn cảnh và môi trường sống của mình. Đó là triết lý sống hoà hợp nhưng chứa đựng những khát vọng vươn lên trong việc năm vững và chế ngự các hiện tượng tự nhiên để phục vụ cho hoạt động sống của con người.
Giao thông đi lại là nhu cầu cần thiết của con người và là một trong những tiêu chí đánh giá sự tiến bộ xã hội. Về bản chất, giao thông là hiện tượng kinh tế vì thông qua hoạt động trên lĩnh vực giao thông vận tải (hàng hóa hoặc hành khách) con người có thể thu được một nguồn lợi to lớn. Nhưng, cùng với sự phát triển của văn hóa, văn minh nhân loại, con người còn nhận ra sự hội tụ trong giao thông vận tải nhiều yếu tố khác nhau, đó là sự phát triển của khoa học công nghệ, điện tử viễn thông, và đặc biệt là văn hóa.
Trước nay, khi đề cập đến lịch sử thành phố Mỹ Tho, đặc biệt là lịch sử giao thông của thành phố dưới thời Pháp thuộc, chúng ta thường chỉ nghe nhắc nhiều đến tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho hoặc bến tàu Mỹ Tho với các tuyến đường thủy đi các tỉnh Tây Nam Kỳ và qua Nam Vang (Campuchia). Vấn đề này ít được nghiên cứu, hơn nữa các tài liệu lại tản mác, không thống nhất với nhau. Qua bài viết này, chúng tôi mong muốn phác họa lại phần nào diện mạo lịch sử giao thông của một giai đoạn khá sôi động của thành phố nơi “ngã ba sông” này.
Nằm ở hạ nguồn sông Mê Kông, nguồn nước dồi dào, ngập lụt kéo dài nhưng 85 – 90% tổng lượng lũ đi theo dòng chính sông Tiền, sông Hậu, thủy triều vận động mạnh, đồng bằng thấp, đất chua phèn và mặn lại nằm trong vùng thời tiết nóng ẩm quanh năm; nguồn nhân lực năng động và sáng tạo, nhạy bén với cái mới. Đó là các tác nhân tự nhiên hữu cơ và tất yếu tạo nên hình thái đặc sắc để thích nghi và phát triển bền vững của ĐBSCL, đấy là những điều tưởng là đơn giản, rõ ràng nhưng không phải lúc nào sự nhìn nhận của chúng ta cũng thật sâu sắc nhuần nhuyễn những đặc tính đó để có hành động thật sự khoa học. Hơn mười năm qua ĐBSCL trải nghiệm thành công từ sống chung với lũ đến nay đã hiển hiện một tình thế sống động phát triển bền vững trong môi trường lũ đó là cánh cửa để ĐBSCL ứng phó khôn ngoan với những thay đổi ở thượng nguồn và biến đổi khí hậu toàn cầu. 
Biến đổi khí hậu toàn cầu kèm theo nhiều hậu quả hết sức tai hại: nước dâng ngập các vùng đồng bằng thấp ven biển, bão lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn, khốc liệt hơn gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp và đa dạng sinh học, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của nhiều quốc gia. Kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy các hiện tượng này có nguyên nhân là do sự gia tăng nồng độ các khí nhà kính trong khí quyển dẫn đến nhiệt độ không khí không ngừng tăng trên phạm vi toàn cầu. Trái đất ấm lên làm tan chảy băng ở các vùng cực, nước biển dâng cao sẽ đe doạ cả hành tinh chúng ta.
Riêng “Tam vị” (mắm, đước, tràm), hi vọng được người bảo vệ nghiêm ngặt trong những “vườn sinh quyển tự nhiên” và được “tôn thờ” như ba vị “tam công”, ba ông “phúc, lộc, thọ”. Vì với Nam Bộ, tam vị có công mở đất. Cần gìn giữ tình cảm đẹp, thân thiện giữa người và cây vốn có trong quá khứ.
Ghe bầu là loại ghe đi biển chạy bằng buồm, chủ yếu dùng để vận chuyển hàng hóa. Đây là loại ghe của cư dân miền Trung, ra đời từ giữa thế kỷ XVI, có nguồn gốc tương đồng với loại thuyền prao (hay prau) của Mã Lai.










