LỄ CẦU MƯA
CỦA NGƯỜI RAGLAI Ở VIỆT NAM
Đạo Thanh Quyến
Tộc người Raglai có một hệ thống nghi lễ rất phong phú và đa dạng. Nó phản ánh cảnh quan, môi trường sống và cuộc sống tâm linh của họ. Nói một cách khác, qua hệ thống nghi lễ người Raglai có thể giải thích về thế giới quan, vũ trụ quan, nhân sinh quan, về các hiện tượng tự nhiên, về nguồn gốc của tộc người và buôn làng của họ.
(Trường hợp nghiên cứu ở xã Phước Hà, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận)


Ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam, trên địa bàn cư trú người H’mông - Dao, Kháng, Khơ Mú... đều không còn rừng hoặc chỉ là rừng tái sinh. Nhưng bao quanh làng của người Hà Nhì vẫn còn những cánh rừng già với những cây cổ thụ, dây leo chằng chịt. Vì sao trên cùng một vùng đất trong khi nhiều tộc người khác trơ trụi cây xanh thì làng của người Hà Nhì vẫn còn những cánh rừng già? Trí thức bản địa về bảo vệ rừng của người Hà Nhì ra sao để bảo vệ được những cánh rừng nguyên sinh? Trong điều kiện hiện nay tri thức bản địa về bảo vệ rừng của người Hà Nhì còn phát huy được tác dụng hay không? Đó là những vấn đề chúng tôi muốn đề cập trong báo cáo khoa học này.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tỉnh Đồng Nai có tốc độ phát triển đô thị hoá và công nghiệp hoá đạt mức cao, tốc độ phát triển kinh tế tăng nhanh góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Bên cạnh sự phát triển về kinh tế, những vấn đề về văn hoá, xã hội nảy sinh, nhất là sự biến đổi văn hoá của các dân tộc. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc ngày càng được Đảng và Nhà Nước quan tâm, đầu tư.
Khi nói về bản sắc của các tộc người Tây Nguyên, bao giờ người ta cũng đề cập đến nhà rông như là biểu tượng đầy đủ nhất của văn hóa Tây Nguyên. Với đồng bào Tây Nguyên, có làng thì phải có nhà rông, làng nào không có thì làng đó thiếu sức sống cội nguồn. Vì nhà rông vừa là tinh hoa của tộc người, vừa là nơi chứa đựng yếu tố tâm linh.
Theo kết quả số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở vào thời điểm ngày 1-4-2009, Khánh Hòa có đủ 54 tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sinh sống. Raglai là tộc người có số dân chiếm tỉ lệ 3,97% (37,56% tổng số dân Raglai cả nước), đứng thứ hai sau người Kinh (chiếm 94,68%). Các tộc người khác tuy có nhưng rất ít và không sống tập trung mà chỉ rải rác một vài hộ, thậm chí chỉ 1 đến 2 khẩu sống trên 1 xã, phường. Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, người Raglai sống tập trung chủ yếu tại: hai huyện miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh; xã Cam Thịnh Tây, thôn Giải Phóng, thôn Thống Nhất xã Cam Phước Đông, tổ dân phố Phúc Sơn phường Cam Phúc Nam, xã Cam Thành Nam (thành phố Cam Ranh); xã Sơn Tân (huyện Cam Lâm); xã Ninh Tây, Ninh Tân (thị xã Ninh Hòa) và một số ít ở huyện Diên Khánh, huyện Vạn Ninh, thành phố Nha Trang.
Ngày nay, sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tác động đến mọi hoạt động sản xuất cũng như chi phối đời sống tinh thần của nhiều người trong xã hội. Thế nhưng, yếu tố tâm linh, niềm tin vào tôn giáo, vào những thế lực siêu nhiên đã tồn tại trong đời sống tinh thần của người Khơme Nam Bộ từ xa xưa vẫn không bị mất đi, mà nó vẫn được giữ gìn trong nhiều phong tục tập quán cũng như nghi lễ truyền thống. Điều này được minh chứng qua việc khảo sát quá trình tạo ra chiếc ghe ngo cũng như trong quá trình ghe ngo tham gia thi đấu.
1. Dẫn luận
Trong tâm thức dân gian, chuột được coi là một loài vật tinh khôn, nhanh nhẹn, luôn thích nghi trong mọi hoàn cảnh, nổi tiếng về khả năng tàn phá. Trong lịch sử nhân loại, con người không ít lần từng bị đói, rét, bệnh tật, nhà cửa ruộng vườn bị tàn do chính loài chuột gây ra. Vì lẽ đó, trong mắt của các dân tộc, chuột là kẻ thù của con người, là loài vật cần phải tiêu diệt. Tuy nhiên, người Dao thuộc nhóm Dao tiền ở Tân Pheo, Đà Bắc Hòa Bình lại tôn sùng chuột như là một vị thần, một sự cứu cánh đối với cộng đồng và trở thành một tín ngưỡng trong tâm thức của họ.
Năm Đinh Sửu (1757), Nặc - nguyên, quốc vương Chân Lạp mất, chú họ là Nặc-nhuận đang làm giám quốc, xin hiến đất Srok Kleang và Préah Trapeang (tức đất Trà Vang - Ba Thắc), cầu xin chúa Nguyễn phong làm vua Chân Lạp, chúa Võ vương Nguyễn Phước Khoát chấp thuận.










