KINH NGHIỆM QUẢN LÝ VÀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA
CỦA NƯỚC ANH
Lê Thị Bích Hồng
Thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo quản lý năm 2012 (Đề án 165), Đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương đã đi nghiên cứu, học tập quản lý và bảo tồn di sản văn hóa tại Trường Đại học Oxford Brookes - một trong 38 trường đại học nổi tiếng của thành phố Oxford, một địa chỉ khá ấn tượng nằm trong những top đầu của hệ thống giáo dục đại học Anh quốc. Những kinh nghiệm quản lý văn hóa ở nước Anh nói riêng và các nước nói chung là rất cần thiết và bổ ích cho đội ngũ quản lý văn hóa ở Việt Nam. Vấn đề đặt ra là nghiên cứu và lựa chọn những gì phù hợp với thực tiễn đất nước nhằm tiếp tục hoàn thiện chính sách văn hóa trên cơ sở quan điểm, đường lối của Đảng và yêu cầu phát triển của nước nhà trong bối cảnh hội nhập quốc tế.


Năm 1969, “Đạo luật môi trường” (National Envirimental Policy Act, NEPA) đầu tiên của Mỹ ra đời nhằm thiết lập những chính sách và luật định cho việc bảo vệ môi trường. Yêu cầu đánh giá tác động môi trường (ĐTM) ở Mỹ cũng bắt đầu từ thời điểm đó. Tiếp sau đó là một số nước như Nhật Bản, Hồng Kông, Singapore đã yêu cầu có báo cáo ĐTM cho các dự án phát triển.
Trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, các quốc gia ở Đông Nam Á và Đông Âu đang cố gắng tìm kiếm, lựa chọn, xây dựng mô hình phát triển của riêng mình mà trong 20 năm qua, những mô hình phát triển của Nga, Thái Lan, Singapor, Malaysia… cũng rất đáng quan tâm nghiên cứu vì tính độc đáo và những thành tựu lớn lao của các quốc gia nêu trên.
Ngay từ những năm 1980 đã có nhiều nghiên cứu về VHAT. Tuy nhiên khái niệm VHAT khi đó vẫn chưa định hình rõ và chưa thực sự thu hút sụ chú ý của xã hội. Trong các tài liệu khoa học hồi đó có khá nhiều định nghĩa khác nhau về VHAT với cả ý kiến ủng hộ và chống đối khái niệm này. Mãi cho đến thảm họa nhà máy điện hạt nhân Chernobyl năm 1986 vấn đề VHAT một lần nữa lại thu hút dư luận vì nó trở nên sống còn đối với một hệ sản xuất công nghệ rất cao và mối nguy hiểm gây ra cho con người.
Xu hướng quốc tế hóa ngày càng tăng của các doanh nghiệp, thậm chí thế giới hóa chúng, đang đưa những người lãnh đạo tới chỗ thiết lập những thủ tục quyết định có tính tới đặc thù văn hóa của các thị trường và các đối tác. Sự quản lý quốc tế được chuẩn bị như thế nào?
Trong đời sống xã hội các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng được hình thành và phát triển ngày càng đa dạng và phức tạp. Khi của cải xã hội ngày càng nhiều thì mức độ thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng, điều này cho thấy việc thoả mãn nhu cầu của cuộc sống phụ thuộc vào khả năng lao động của con người.
Tập quán là "Phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng. Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi. Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính thói quen. Tập quán xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt". Những hành vi "vi phạm tập quán sẽ bị áp dụng những chế tài nhất định - đó là dư luận xã hội. Tính chất của chế tài này không nặng nề lắm, bởi lẽ, ở tập quán luôn có sự dao động giữa tình trạng bắt buộc với cái rất đáng làm theo".
Văn hóa truyền thống (VHTT) và đạo đức nghề nghiệp (ĐĐNN) của người lao động là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển bền vững doanh nghiệp (DN). Việc tìm hiểu các giá trị VNTT, ĐĐNN, mối quan hệ của chúng có ý nghĩa quan trọng đối với xây dựng triết lý kinh doanh lấy tâm thức con người lao động Việt Nam làm chủ thể để định hướng tầm nhìn, hoạch định chiến lược phát triển DN. Trên cơ sở điều tra trực tiếp 225 nhân viên làm việc toàn thời gian trong các DN sản xuất và kinh doanh nhằm thu thập dữ liệu phân tích, dựa vào mô hình phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy bội, nghiên cứu này tập trung vào việc hình thành mô hình định lượng mối quan hệ của yếu tố VHTT và ĐĐNN trong các DN ở Việt Nam.
Trong bài viết này, tác giả đã đi sâu phân tích cấu trúc của văn hoá pháp luật, bao gồm ý thức pháp luật, hệ thống pháp luật và các thiết chế pháp luật, hành vi và lối sống theo pháp luật; đồng thời, làm rõ vai trò của văn hoá pháp luật trong việc tạo dựng môi trường xã hội - pháp lý lành mạnh cũng như định hướng hành vi của con người trong xã hội phù hợp với các nguyên tắc, quy định của pháp luật. Theo tác giả, văn hoá pháp luật có những chức năng quan trọng, đó là chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thực tiễn.










