CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA TRIỀU NGUYỄN
TẠI ĐÀ NẴNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
Sau khi thiết lập vương triều, nhà Nguyễn đã thực thi nhiều biện pháp trong chính sách ngoại giao nhằm mục đích xây dựng và bảo vệ đất nước. Mặc dầu có nhiều cố gắng nhưng nhìn toàn cục, nhà Nguyễn đã đánh mất chính sách ngoại giao nhu viễn, khôn khéo của các triều đại trước với các nước lân bang. Điều này được thể hiện rõ qua chính sách ngoại giao của nhà Nguyễn tại Đà Nẵng nửa đầu thế kỷ XX.


Lâu nay, người ta vẫn cho rằng văn hóa đồng nghĩa với chân, thiện, mỹ. Thật ra, không phải hoàn toàn như thế, mà chân, thiện, mỹ chỉ là mục đích của văn hóa để mọi người vươn tới. Theo quan niệm cổ truyền của người phương Đông, văn hóa vốn có nghĩa là làm cho con người trở thành (hóa) đẹp (văn), trở thành có giá trị về mặt tinh thần, từ đạo đức đến thẩm mỹ. Hướng về chân, thiện, mỹ chính là nhằm vào mục đích ấy.
Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu (Bà Ma Tổ, Bà Mã Châu) gốc Hoa Nam đã theo bước di dân người Hoa đến Nam Bộ Việt Nam từ các thế kỷ 17- 19, đã trở thành một dạng tín ngưỡng thờ Mẫu khá phổ biến tại đồng bằng Nam Bộ. Tục thờ này cùng với các hoạt động văn hóa – nghệ thuật và các khía cạnh văn hóa vật thể gắn liền với nó đã sớm trở thành một “kho tàng” văn hóa dân gian, ở đó người ta gìn giữ linh hồn của truyền thống, đồng thời cũng là một kênh giáo dục đạo đức, lối sống hiệu quả và sâu sắc của người Hoa nói riêng, của các tộc người Nam Bộ nói chung. Trong mối tương quan với văn hóa dân gian các tộc người Việt, Khmer và Chăm trong vùng, tín ngưỡng Thiên Hậu đã góp phần quan trọng tạo nét đặc trưng mang bản sắc người Hoa – một bộ phận của đại gia đình các dân tộc Việt Nam, ngày càng có giá trị lớn lao trong quá trình dung hợp đa văn hóa để tạo nên diện mạo văn hóa Nam Bộ Việt Nam trong suốt 300 năm qua.
Bởi lẽ tự nhiên là "Việt Nam Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông", mà sự tiếp xúc văn hoá - ngôn ngữ giữa hai nước Việt–Trung đã diễn ra từ rất lâu đời và vô cùng sâu đậm. Từ những thế kỉ trước Công nguyên cho đến thế kỉ X là thời kì nước ta chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, sự tiếp xúc ngôn ngữ Việt Hán chủ yếu là thông qua "con đường khẩu ngữ".
Di cư quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ đến Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển, cần được nghiên cứu một cách có hệ thống theo cách tiếp cận phù hợp.
Óc Eo là tên một gò đất lẫn đá nổi trên mặt cánh đồng phía Đông nam núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang. Tên này đã có từ lâu và đã lưu truyền từ nhiều thế hệ cư dân nhưng không ai biết được xuất xứ của nó. Một vài nhà khoa học Pháp cho rằng chữ Óc Eo đồng âm với từ Khmer địa phương là Ur Keo, có nghĩa là “rạch ngọc”. Từ Keo trong tiếng Thái cũng có nghĩa là ngọc. Ở Thái Lan có một ngôi chùa tên là “Wat Phra Keo” có nghĩa là “Chùa Phật Ngọc”.
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP. HCM (BTLSVN - TP. HCM) hiện lưu giữ nhiều sưu tập cổ vật quí hiếm thuộc các nền văn hóa cổ nổi tiếng khác nhau ở Đông Nam Á. Theo nguồn tài liệu của Bảo tàng Blanchard de la Brosse (tiền thân của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP. HCM), phần lớn các sưu tập cổ vật trên do Hội Nghiên Cứu Đông Dương (Société Des Étude Indochinoises, thành lập năm 1865) xuất tiền mua lại từ nhiều nguồn khác nhau. Một số do Bảo tàng thu thập được trong các đợt khai quật khảo cổ tại Đông Dương, trong số đó có bộ sưu tập điêu khắc đá Champa (thế kỷ II - XVII) và điêu khắc đá đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ Hậu Óc Eo (thế kỷ VII - XII). Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến một số pho tượng thần Bà La Môn giáo (Brahmanism) tiêu biểu thuộc hai sưu tập điêu khắc đá trên hiện trưng bày tại BTLSVN - TP. HCM. Một vài pho tượng trong số này đã được khảo cứu trong các tài liệu khảo cổ thời Pháp thuộc.
Tại kinh đô ở Nam Kinh, ngày 25 tháng 7 năm Hồng Vũ thứ tư (1371), hoàng đế nhà Minh của Trung Hoa tiếp nhận một tấu văn cỡ lớn làm bằng vàng lá, trên khắc chữ ngoại quốc. Sau khi dịch, hoàng đế biết rằng những hàng đầu tiên của tấu văn này được đọc như sau:
Bài tham luận của Etienne Francois Aymonier đọc tại Hội nghị thuộc địa quốc tế, ngày 31/7/1890










