ĐỜN CA TÀI TỬ MIỀN TÂY NAM BỘ
TS. Nguyễn Thị Mỹ Liêm
(Nhạc viện TP. Hồ Chí Minh)
Trước nay, người ta thường có câu mời “về miền Tây nghe đờn ca Tài tử...” mà ít khi nghe ai mời về miền Đông... !!! Tuy nhạc Tài tử không dành riêng cho người miền Tây, nhưng ai cũng nhận thấy ở đây đờn ca Tài tử phát triển mạnh, đậm đà chất Nam Bộ, và đã trở thành một “đặc sản” văn hóa âm nhạc vùng miền.


Khái niệm “Nam Bộ học” có thể còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng chúng tôi muốn nói, nhà văn Sơn Nam là người am hiểu nhiều vấn đề Nam Bộ; biết rõ tâm lí, tính cách con người Nam Bộ. Các sáng tác của ông đã giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu những vấn đề Nam Bộ từ nhiều phương diện: lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục, tập quán, lễ hội, phương ngữ, ngành nghề...
Trong chiều dài lịch sử hơn 300 năm vùng đất Biên Hòa - Đồng Nai, sự hiện hữu của những ngôi nhà cổ đã góp phần quan trọng phản ánh nét văn hóa đặc thù của các thế hệ cư dân sinh sống trên vùng đất này. Hình thái kiến trúc, cách bài trí, quy ước nề nếp sinh hoạt, tuổi thọ các ngôi nhà cổ..., trong đó, có không ít ngôi nhà được xây dựng từ giữa TK XIX và những năm đầu TK XX, thực sự trở thành vốn di sản văn hóa quý giá.
T
Sân khấu cải lương Sài Gòn giai đoạn 1954-1975 đã cho ra đời và nuôi dưỡng những tài năng sân khấu được xem là thế hệ vàng của sân khấu cải lương. Những công trình nghiên cứu trước đây về sân khấu cải lương trong giai đoạn này thường có cái nhìn phiến diện, một chiều, nhấn mạnh những tiêu cực của nó. Chúng ta cần phải có cái nhìn biện chứng hơn về một giai đoạn đầy biến động của sân khấu cải lương.
Trương Vĩnh Ký là nhà văn hóa lớn, người trí thức đầu tiên của Việt Nam dùng chữ quốc ngữ để làm báo và in sách. Ông đã để lại một công trình đồ sộ, hàng trăm cuốn sách gồm sách dịch thuật, khảo cứu, sáng tác bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Ông có một văn nghiệp lớn lao, nhưng cuộc đời lại nhiều lần trở ngại và bị hiểu lầm đáng tiếc. Chúng tôi nghĩ rằng, hơn lúc nào hết, ngày nay chúng ta đã có đủ điều kiện để nhìn nhận một cách đúng đắn nhất, công bằng nhất về sự nghiệp văn hóa, văn học của Trương Vĩnh Ký. Chính vì những lẽ trên, mặc dù còn nhiều khó khăn và hạn chế, nhưng chúng tôi - với niềm cảm phục và yêu mến nhân vật lịch sử này - mạnh dạn thực hiện đề tài
So với lịch sử văn hóa của dân tộc thì kiến trúc ở Nam bộ là một bộ phận còn rất mới mẻ để khẳng định những hệ giá trị văn hóa truyền thống riêng, có thể định lượng và khu biệt một cách rõ ràng. Vì vậy, việc xem xét những hệ giá trị văn hóa truyền thống và việc chuyển đổi những hệ giá trị văn hóa của kiến trúc Nam bộ vẫn chưa thể tách rời với diễn biến chung của toàn quốc trong bối cảnh giao lưu với văn hóa phương Tây và toàn cầu hóa hiện nay.
Việc ghi công Vị quan Tổng trấn Gia Định thành có ý tưởng và chỉ huy đào kinh Vĩnh Tế, chúng tôi cùng ý kiến hai ông Nguyễn Minh Tường, Nguyễn Thiện Lâu… (Xem “Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ”, Xưa & Nay, Trẻ, 2002) Đánh giá chung Thượng Công Lê Văn Duyệt: Ông là nhà quân sự, nhà chính trị song toàn; chí công và nghiêm minh. Ông trị nước bằng cách thương dân, nghiêm khắc bọn quan lại thối nát. Do vậy, dù ông mất, triều đình kết tội ông, người dân vẫn tôn ông là “Thần”, dân Nam Bộ gọi Thượng công Lê Văn Duyệt thân thương, tôn kính là “Ông”. Ông vẫn sống trong lòng dân tộc, thời đại, bởi đức độ và tài năng mình.
Hồ Biểu Chánh là một nhà nho lớp cũ viết văn, viết báo ngay từ những năm đầu thế kỷ, lại có tiểu thuyết lưu hành ở Sài Gòn ngay từ 1912. Song chỉ từ khi tác phẩm của ông được đăng vào Phụ nữ tân văn, ông mới được biết khắp trong nước và cây bút của ông từ đó cũng chuyển hẳn về tiểu thuyết.
Người Việt Nam Bộ, ngoài sự thống nhất với các vùng miền trong cả nước, còn có những nét riêng, một tính cách văn hóa bởi sự ứng xử và thích nghi với vùng đất, không gian sinh tồn mà họ đã lựa chọn, kiếm tìm từ hơn ba thế kỷ qua. L.Feuerbach, trong tác phẩm











